Tình hình thế giới đầy bấp bênh - biểu hiện của một hệ thống đang sa lầy trong khủng hoảng Share TweetNhững sự kiện trọng đại mà chúng ta không ai là không biết đang làm biến đổi bộ dạng của thế giới. Với việc Trump gây ra những biến động chính trị và kinh tế trên toàn cầu, các mâu thuẫn bị dồn nén trong gần hai thập kỷ khủng hoảng và trì trệ của chủ nghĩa tư bản đang lên đến đỉnh điểm. Từ cuộc diệt chủng ở Gaza đến thất bại của phương Tây tại Ukraine, từ thuế quan tăng cao đến nợ công toàn cầu phình to, những diễn biến mang tính thời đại đang làm lung lay nhận thức của hàng tỷ người.Để đánh giá những biến động đang diễn ra, Quốc tế Cộng sản Cách mạng (Revolutionary Communist International - RCI) sẽ triệu tập Đại hội Thế giới đầu tiên tại Ý chỉ sau tám tuần nữa. Tại Đại hội lần này, các đại biểu và khách mời sẽ tham gia thảo luận chuyên sâu về bản dự thảo tài liệu Viễn cảnh Thế giới mà đã được Ban Chấp hành Quốc tế của chúng ta phê duyệt. Để đề ra phương hướng hành động của mình trước những biến động của tình hình thế giới, cần thiết phải hiểu rõ giai đoạn hiện tại chúng ta đang trải qua – nếu không có nó, một tổ chức cách mạng chẳng khác nào một con tàu bất định, không đi tới đích đến nào cả.Chỉ trong hai năm qua, RCI đã phát triển một cách vượt bậc. Hiện nay, chúng ta đã có mặt tại 70 quốc gia trên toàn thế giới. Đại hội Thế giới lần này sẽ đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc chuẩn bị cho Quốc tế của chúng ta ứng phó với những cú sốc to lớn, các cuộc đấu tranh giai cấp, và những biến động cách mạng đang đón chờ ở phía trước.Chúng ta đang sống trong một thời kỳ của những bước ngoặt lịch sử cùng với những việc tình hình thế giới biến đổi đột ngột. Các chính sách của Donald Trump sau khi ông ta được bầu làm Tổng thống Hoa Kỳ cùng với đã gây ra những bất ổn to lớn đối với nền chính trị, kinh tế toàn cầu và làm thay đổi tương quan quan hệ giữa các cường quốc.Tuy Trump không phải là nguyên nhân tạo ra tình trạng hỗn loạn này - mà đó là kết quả từ cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản - nhưng các động thái của ông ta đã thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình đó. Những mâu thuẫn đã âm ỉ tích tụ từ lâu dưới bề mặt nay bỗng nhiên bộc phát, làm đảo lộn toàn bộ cục diện. Trật tự thế giới 'tự do' (liberal world order) đã tồn tại suốt nhiều thập kỷ nay đang sụp đổ ngay trước mắt chúng ta.Khi phân tích tình hình thế giới, chúng ta cần bắt đầu từ những điều căn bản. Chủ nghĩa tư bản là một hệ thống đã tồn tại quá lâu so với vai trò lịch sử mà nó đảm nhận. Trong thời kỳ suy tàn, nó tạo ra chiến tranh, khủng hoảng, tàn phá môi trường – những thứ mà về lâu dài, đe dọa đến chính sự tồn tại của sự sống trên hành tinh này. Mục đích của tài liệu này là phác thảo những đặc điểm chính của cuộc khủng hoảng đó và nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng một tổ chức cách mạng có khả năng lật đổ chủ nghĩa tư bản thối nát – con đường duy nhất để bảo đảm tương lai cho nhân loại.Suy cho cùng, nguyên nhân của cuộc khủng hoảng nằm ở chỗ hệ thống tư bản không còn khả năng phát triển lực lượng sản xuất. Nền kinh tế bị kìm hãm bởi giới hạn của nhà nước dân tộc và quyền sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất. Trong nhiều thập kỷ, giai cấp tư sản đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để cố vượt qua những giới hạn đó: tăng thanh khoản, mở rộng thương mại toàn cầu, v.v. Thế nhưng, tất cả những biện pháp đó giờ đây đang trở nên phản tác dụng.Sự kiện Trump đắc cử Tổng ThốngViệc Donald Trump đắc cử Tổng thống vào tháng 11 năm 2024 đánh dấu một bước ngoặt chính trị quan trọng, và là biểu hiện rõ rệt của cuộc khủng hoảng về tính chính danh của nền dân chủ tư sản — một hiện tượng không chỉ hiện tồn ở riêng Hoa Kỳ, mà tồn tại ở tất cả các quốc gia. Bất chấp những nỗ lực như thế nào từ phía giai cấp thống trị và giới cầm quyền Mỹ nhằm ngăn chặn chiến thắng của Trump, ông ta vẫn đã giành được thắng lợi rõ rệt.Kết quả này đã được nhiều nhà bình luận theo chủ nghĩa tự do, truyền thông chính thống và một bộ phận 'cánh tả' luận giải như là bằng chứng cho thấy cán cân chính trị đang chuyển dịch mạnh mẽ sang cực hữu ở Hoa Kỳ và trên toàn cầu.Những 'diễn giải' như vậy không những nông cạn mà còn đưa ra những kết luận sai lầm. Thậm chí, những kết luận ấy còn cực kỳ nguy hiểm. Ví dụ, cho rằng Joe Biden và Đảng Dân chủ là một lựa chọn 'tiến bộ' hơn và 'dân chủ' hơn – một nhận định hoàn toàn mâu thuẫn với thực tế.Chính quyền Biden là hoàn toàn phản động, điều này thể hiện rõ nhất trong các chính sách đối ngoại của chúng. Hãy nhớ rằng “Genocide Joe” (Joe diệt chủng) đã trao cho Netanyahu tấm chi phiếu trắng để tiến hành cuộc thảm sát người Palestine ở Dải Gaza. Ông ta còn dẫn đầu một chiến dịch đàn áp khốc liệt nhắm vào sinh viên và những người dám phản đối chính sách phản động này.Tương tự, trong vấn đề Ukraine, Biden là người cố tình khiêu khích và thúc đẩy một cuộc xung đột đẫm máu, ném hàng tỷ đô la tiền mặt và viện trợ quân sự cho chế độ phản động ở Kyiv, đồng thời theo đuổi chính sách khiêu chiến nguy hiểm đối với Nga.Trong chiến dịch tranh cử, Trump tự nhận định mình là 'ứng viên vì hòa bình', trái ngược với đường lối hiếu chiến của nhóm Biden. Quan điểm này đặc biệt có sức hút đối với cử tri ở các khu vực có đông dân số Hồi giáo và người gốc Ả Rập.Dù đúng là có một bộ phận phần tử phản động ủng hộ Trump, nhưng điều đó không thể giải thích hết quy mô chiến thắng của ông ta, hay việc ông đạt được tỷ lệ phiếu bầu gia tăng trong gần như mọi nhóm dân cư – kể cả trong cộng đồng người da đen và gốc Latinh thuộc tầng lớp lao động. Thậm chí, ở nhiều bang nơi Trump đạt được đàu phiếu cao hoặc có tỷ lệ phiếu được cải thiện, cử tri đồng thời cũng ủng hộ các sáng kiến tiến bộ, như bảo vệ quyền phá thai hoặc tăng lương tối thiểu.Yếu tố then chốt trong chiến thắng của Trump nằm ở khả năng khai thác, biểu đạt bằng từ ngữ và huy động được tâm lý phản tinh hoa (anti-establishment) – tâm lý phổ biến và đã ăn sâu trong lòng xã hội Mỹ.Một ví dụ điển hình cho tâm lý này có thể được nhìn thấy rõ qua phản ứng của công chúng trước vụ ám sát được cho là do Luigi Mangione gây ra đối với Giám đốc điều hành của United Healthcare. Mặc dù bản thân hành động này đã cho thấy sự chống đối kịch liệt nhắm vào giới tinh hoa, nhưng phản ứng của công chúng - khi họ thể hiện sự đồng cảm với kẻ bị cáo buộc tấn công hơn là nạn nhân - thậm chí còn bộc lộ điều đó rõ hơn. Mangione đã được nhiều người coi như 'anh hùng' . Đáng chú ý, sự ngưỡng mộ ấy không chỉ giới hạn ở phe cánh tả mà còn được chia sẻ bởi một bộ phận cử tri bảo thủ và Đảng Cộng hòa, bao gồm cả những kẻ ủng hộ Trump.Điều này thoạt nghe có vẻ vô lý nhưng lại là những gì đã diễn ra. Mặc dù Trump là một tỷ phú và cùng một phường với những kẻ quyền thế giàu có ngang ngửa tầm cỡ mình, nhưng ông ta đã thành công trong việc thể hiện cho quần chúng thấy được vỏ bọc rằng mình đại diện cho tiếng nói căm phẫn chống lại giới tinh hoa. Mâu thuẫn này làm nổi bật bản chất thiếu nhất quán và méo mó của tình hình chính trị hiện tại. Mặt khác, nó lại phản ánh sự bất mãn đã đang tồn tại và ngày càng lan rộng nhắm vào các thể chế hiện tồn: bao gồm các đại doanh nghiệp, giới tinh hoa chính trị, và toàn bộ bộ máy nhà nước.Nguyên nhân sâu xa của việc làn sóng phẫn nộ phản tinh hoa ngày càng dâng cao xuất phát từ chính nội tại cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản. Sự phẫn nộ ấy đã đạt đến quy mô chưa từng có, kể từ cuộc khủng hoảng năm 2008 - mà hệ thống tư bản chủ nghĩa vẫn chưa hoàn toàn phục hồi. Chúng ta không chỉ đang trải qua một cuộc khủng hoảng khác theo chu kỳ của chủ nghĩa tư bản, mà là một cuộc khủng hoảng hữu cơ của chủ nghĩa tư bản. Sự ủng hộ cho nền dân chủ tư sản ở các nước tư bản tiên tiến đã được xây dựng trong nhiều thập kỷ dựa trên quan niệm rằng chủ nghĩa tư bản có thể đáp ứng một số nhu cầu cơ bản của giai cấp công nhân (chăm sóc sức khỏe, giáo dục, lương hưu…) và kỳ vọng rằng mức sống của mỗi thế hệ sẽ được cải thiện, dù chỉ một chút, so với thế hệ trước đã bị vạch trần và bác bỏ.Các số liệu đã chứng minh điều đó. Tại Hoa Kỳ, vào năm 1970, hơn 90% người 30 tuổi có thu nhập cao hơn cha mẹ họ ở cùng độ tuổi. Tuy nhiên, đến năm 2010, tỷ lệ này đã giảm xuống còn 50%. Đến năm 2017, chỉ có 37% người Mỹ còn có thể duy trì niềm tin rằng con cái họ sẽ đạt được mức sống tốt hơn chính họ.Theo Cục Thống kê Lao động, kể từ đầu những năm 1980, mức lương thực tế của tầng lớp lao động Mỹ hoặc vẫn giữ nguyên hoặc giảm, đặc biệt là khi việc làm được xuất khẩu cho các quốc gia khác. Tương tự, Viện Chính sách Kinh tế báo cáo rằng mức lương của các hộ gia đình có thu nhập thấp và trung bình hầu như không tăng trưởng kể từ cuối những năm 1970, trong khi chi phí sinh hoạt vẫn tiếp tục tăng.Đi cùng với những điều ấy là sự phân cực giàu nghèo rõ rệt. Một mặt, một số ít tỷ phú đang ngày càng gia tăng khối tài sản của chúng. Mặt khác, ngày càng nhiều người lao động gặp khó khăn hơn trong việc kiếm sống. Họ phải đối mặt với việc cắt giảm chi tiêu khắc khổ, sức mua của tiền lương bị nhấn chìm bởi lạm phát, hóa đơn năng lượng tăng cao, khủng hoảng nhà ở, v.v.Truyền thông, chính trị gia, các đảng phái chính trị, quốc hội, ngành tư pháp, tất cả đều bị coi là đại diện cho lợi ích của một nhóm nhỏ tinh hoa đặc quyền, đưa ra quyết định để bảo vệ lợi ích hẹp hòi, ích kỷ của riêng chúng thay vì phục vụ nhu cầu của số đông.Cuộc khủng hoảng năm 2008 kéo theo những đợt cắt giảm với chính sách thắt chặt kinh tế tàn bạo ở tất cả các quốc gia. Tất cả những thành tựu chủ nghĩa tư bản đạt được trong quá khứ đều bị lung lay. Người dân chứng kiến mức sống của họ bị cướp đi trong khi các ngân hàng lại nhận được các gói cứu trợ. Điều này đã gây ra sự phẫn nộ tột cùng, kéo theo các phong trào biểu tình quần chúng, và trên hết, là sự xuất hiện của một cuộc khủng hoảng chưa từng có về tính chính danh của tất cả các thể chế tư sản.Những biểu hiện ban đầu đầu của tâm lý đó được thể hiện qua các phong trào phản đối chính sách thắt chặt kinh tế của quần chúng vào khoảng năm 2011, được thể hiện ở cánh tả. Đã có sự trỗi dậy của các nhân vật và đảng phái cánh tả, chống lại giới cầm quyền trên khắp châu Âu và Hoa Kỳ: Podemos, Syriza, Jeremy Corbyn, Bernie Sanders, cùng nhiều người khác. Tuy nhiên, tất cả những phong trào này cuối cùng đều phản bội lại những kỳ vọng đã được tạo ra. Chính những kết quả này đã phơi bày những hạn chế trong chính trị cải cách cùng với các nhà lãnh đạo của nó.Chính sự thất bại thảm hại của những nhân vật cánh tả ấy đã mở đường cho sự trỗi dậy của những kẻ mị dân phản động như Trump.Các quá trình tương tự cũng diễn ra ở hầu hết các nước tư bản tiên tiến: khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản, cắt giảm nhắm vào giai cấp công nhân, cánh tả phá sản bất lực và những kẻ kích động cánh hữu cưỡi trên những con sóng phẫn nộ chống lại chế độ hiện hành trỗi dậy.Liệu chúng ta có đang đối mặt với nguy cơ phát xít hay chủ nghĩa Bonapart?Ngay cả trước khi Trump được bầu làm tổng thống, đã có một chiến dịch rầm rộ trên truyền thông tư sản và trong giới cánh tả nhằm lên án ông ta là một kẻ phát xít.Chủ nghĩa Marx là một khoa học. Giống như mọi ngành khoa học khác, nó có hệ thống thuật ngữ khoa học riêng. Những từ như “phát xít” đối với chúng ta có ý nghĩa chính xác; chúng không phải là những lời mạt sát hay nhãn dán có thể tùy tiện gán cho bất kỳ cá nhân nào mà ta không tán thành.Hãy bắt đầu bằng một định nghĩa cụ thể về chủ nghĩa phát xít. Theo nghĩa Marxist, chủ nghĩa phát xít là một phong trào phản cách mạng – một phong trào quần chúng bao gồm chủ yếu là tầng lớp vô sản lưu manh (lumpenproletariat) và tầng lớp tiểu tư sản phẫn nộ. Nó được sử dụng như một 'chiếc búa tạ' để đập tan và phân rã giai cấp công nhân, thiết lập một nhà nước toàn trị, trong đó giai cấp tư sản trao quyền lực nhà nước cho một bộ máy quan liêu phát xít.Đặc trưng chủ yếu của nhà nước phát xít là sự tập trung quyền lực cực độ và quyền lực nhà nước tuyệt đối, trong đó các ngân hàng và tập đoàn độc quyền lớn được bảo vệ, nhưng đồng thời chịu sự kiểm soát tập trung mạnh mẽ của một bộ máy quan liêu phát xít lớn và quyền lực. Trong tác phẩm Chủ nghĩa Quốc xã là gì?, Trotsky viết:“Chủ nghĩa phát xít Đức, cũng như chủ nghĩa phát xít Ý, đã leo lên nắm quyền bằng cách ngồi trên lưng của tầng lớp tiểu tư sản, nó đã chuyển hóa thành chiếc búa tạ chống lại các tổ chức của giai cấp công nhân và các thể chế dân chủ. Nhưng chủ nghĩa phát xít khi đã cầm quyền thì hoàn toàn không phải là sự thống trị của tiểu tư sản. Ngược lại, đó là nền độc tài tàn bạo nhất của tư bản độc quyền.”Như vậy, nói một cách tổng quát, đó là những đặc điểm chính của chủ nghĩa phát xít. Vậy điều này có gì tương đồng với hệ tư tưởng và nội dung của hiện tượng Trump? Chúng ta đã từng có kinh nghiệm về một chính phủ Trump, mà – theo những lời cảnh báo nghiêm trọng của Đảng Dân chủ và toàn bộ giới tự do – được cho là sẽ xóa bỏ nền dân chủ. Nhưng điều đó đã không xảy ra.Không có tác động rõ rệt nào nhằm hạn chế quyền đình công hay biểu tình, càng không có chuyện xóa bỏ các công đoàn tự do. Các cuộc bầu cử vẫn được tiến hành như thường lệ, và cuối cùng, dù trong bối cảnh ồn ào và chia rẽ, Trump đã được thay thế bởi Joe Biden qua một cuộc bầu cử. Dù nói gì đi nữa về chính phủ Trump lần thứ nhất, thì nó hoàn toàn không mang đặc điểm của bất kỳ dạng phát xít nào.Hơn nữa, cần phải nhìn nhận thêm rằng, tương quan giai cấp đã thay đổi đáng kể kể từ thập niên 1930. Ở các nước tư bản phát triển, giai cấp nông dân – từng chiếm một phần lớn dân số – nay đã giảm xuống rất nhỏ; và nhiều ngành nghề trước đây được xem là 'trung lưu' (như công chức, bác sĩ, giáo viên) nay đã bị vô sản hóa, nghĩa là họ tham gia công đoàn và tham gia đình công. Trọng lượng xã hội của giai cấp công nhân được củng cố mạnh mẽ nhờ sự phát triển của lực lượng sản xuất trong giai đoạn bùng nổ kinh tế to lớn sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.Hệ tư tưởng Trump (Trumpism) – theo cách nói của một số người coi nó thực sự là một hệ tư tưởng – rất xa với chủ nghĩa phát xít. Trái với mong muốn tập trung quyền lực vào bộ máy nhà nước, lý tưởng của Donald Trump là chủ nghĩa tư bản thị trường tự do, trong đó nhà nước đóng vai trò rất nhỏ hoặc hầu như không có vai trò nào (ngoại trừ một số biện pháp thuế quan bảo hộ).Một số người khác lại cho rằng Trump là hiện thân của chế độ Bonapart. Quan điểm này, một lần nữa, mô tả Trump như một nhà độc tài đang trên con đường đè bẹp giai cấp công nhân. Nhưng lối gán nhãn đặt tên này chẳng giải thích được điều gì cả. Thực tế là, thay vì tìm cách nghiền nát giai cấp công nhân, Trump lại đang tìm cách lôi kéo và xoa dịu họ bằng những lời hứa hẹn mang đầy tính mị dân. Dĩ nhiên, là một chính trị gia tư sản, ông ta đại diện cho những lợi ích cơ bản đối lập với công nhân, nhưng điều đó không khiến ông trở thành một nhà độc tài.Người ta có thể chỉ ra rằng trong tình hình hiện tại tồn tại một số yếu tố có thể gọi là mang tính Bonapart. Điều đó có thể đúng. Nhưng những nhận xét tương tự cũng có thể áp dụng cho hầu hết các chế độ dân chủ tư sản gần đây.Chỉ vì một hiện tượng chứa một số yếu tố nhất định của một khái niệm không có nghĩa là hiện tượng đó thực sự biểu hiện đầy đủ khái niệm ấy. Người ta có thể nói rằng có một số yếu tố Bonapart trong Trumpism, nhưng điều đó hoàn toàn khác với việc nói rằng ở Hoa Kỳ đang tồn tại một chế độ Bonapart thực sự.Vấn đề nằm ở chỗ 'chủ nghĩa Bonapart' là một thuật ngữ rất co giãn. Nó bao trùm một phạm vi rộng, bắt đầu từ khái niệm cổ điển về Bonapart – tức là sự cai trị bằng lưỡi gươm. Nhưng phân tích chính phủ Trump hiện nay ở Washington theo cách đó là không phù hợp, vì dù có nhiều đặc điểm khác thường, nó vẫn là một nền dân chủ tư sản. Nhiệm vụ của chúng ta không phải là gán nhãn cho các hiện tượng, mà là theo dõi quá trình khi nó diễn ra và hiểu được bản chất cốt lõi của nó.Những chuyển dịch kiến tạo trong quan hệ quốc tếChính sách đối ngoại của Trump đại diện cho một bước ngoặt lớn trong quan hệ thế giới và sự kết thúc của trật tự thế giới tự do đã tồn tại 80 năm từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Nó cho thấy sự suy tàn tương đối của chủ nghĩa đế quốc Mỹ so với các cường quốc đế quốc đối địch đang tồn tại, Nga và đặc biệt là Trung Quốc - hai đế quốc đối địch chính của Mỹ trên trường quốc tế.Vào cuối Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ đã trỗi dậy mạnh mẽ hơn rất nhiều. Với châu Âu và Nhật Bản bị tàn phá bởi chiến tranh, Mỹ chiếm 50% GDP thế giới và 60% sản lượng sản xuất toàn cầu. Đối thủ đáng gờm duy nhất của Mỹ trên trường quốc tế là Liên Xô - quốc gia đã nổi lên mạnh mẽ sau chiến tranh, đánh bại Đức Quốc xã và tiến quân khắp lục địa.Cách mạng Trung Quốc đã củng cố thêm sức mạnh cho khối Stalin. Mỹ đã nỗ lực tái thiết Tây Âu và Nhật Bản trong nỗ lực ngăn chặn 'cuộc tiến công của chủ nghĩa Cộng sản'. Tuy nhiên, Bộ máy quan liêu Liên Xô không quan tâm đến cách mạng thế giới và đã sẵn sàng đạt được một thỏa thuận tạm thời (modus vivendi) với Washington, thể hiện qua chính sách 'chung sống hòa bình'.Thế giới có đa cực?Tình hình thế giới đang bị chi phối bởi sự bất ổn to lớn trong quan hệ quốc tế. Đây là kết quả của cuộc đấu tranh giành bá quyền thế giới giữa Hoa Kỳ, cường quốc đế quốc hùng mạnh nhất thế giới, đang suy yếu tương đối, và Trung Quốc, một cường quốc đế quốc trẻ trung và năng động hơn đang trỗi dậy. Chúng ta đang chứng kiến một sự thay đổi to lớn, có quy mô tương đương với sự vận động của các mảng kiến tạo trên vỏ Trái Đất. Những vận động như vậy đi kèm với đủ loại chấn động. Cuộc chiến ở Ukraine - nơi một thất bại nhục nhã cho Mỹ-NATO đang được chuẩn bị - và xung đột ở Trung Đông, là những biểu hiện của thực tế này.Cách tiếp cận của Trump đối với quan hệ quốc tế thể hiện nỗ lực thừa nhận rằng Hoa Kỳ không thể là kẻ gác đền duy nhất của thế giới. Theo quan điểm của ông ta và các cộng tác viên thân cận, nỗ lực của Hoa Kỳ nhằm duy trì bá quyền và sự thống trị hoàn toàn là cực kỳ tốn kém, không thực tế và gây tổn hại đến các lợi ích an ninh quốc gia cốt lõi.Điều đó không có nghĩa là Hoa Kỳ không còn là một cường quốc đế quốc hay các chính sách của Trump là vì lợi ích của các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Lập luận ấy thực là những điều giả dối. Thực tế, chính sách đối ngoại của Trump thể hiện sự phân định rõ ràng giữa những gì là và những gì không phải là lợi ích an ninh quốc gia cốt lõi của Hoa Kỳ, bắt đầu từ Bắc Mỹ.Khi Trump nói rằng Hoa Kỳ cần kiểm soát Kênh đào Panama và Greenland, ông ta đang cho thấy đó nhu cầu của chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ. Kênh đào Panama là một tuyến đường thương mại quan trọng, nối liền Thái Bình Dương với Vịnh Mexico và vận chuyển 40% lượng hàng hóa container của Hoa Kỳ.Về phần Greenland, nơi đây luôn có vị trí địa chiến lược quan trọng, đó là lý do tại sao Hoa Kỳ có sự hiện diện quân sự trên hòn đảo này. Sự nóng lên toàn cầu đã dẫn đến sự gia tăng lưu lượng vận tải biển giữa Thái Bình Dương và Đại Tây Dương qua Bắc Cực. Ít băng ở hai cực đồng nghĩa với việc tiếp cận đáy biển dễ dàng hơn, nơi có trữ lượng khoáng sản đất hiếm khổng lồ. Bản thân hòn đảo này cũng có các mỏ khoáng sản quan trọng (đất hiếm, uranium) cũng như khí đốt và dầu mỏ, những nguồn tài nguyên hiện đang ngày càng dễ tiếp cận hơn, cũng do hậu quả của sự nóng lên toàn cầu. Tại đây, Hoa Kỳ đang cạnh tranh với Trung Quốc và Nga để giành quyền kiểm soát các tuyến đường thương mại và tài nguyên này.Chính sách đối ngoại của Trump dựa trên việc thừa nhận những hạn chế của quyền lực Hoa Kỳ. Hậu quả của điều đó là một nỗ lực nhằm gỡ rối nước Mỹ khỏi một loạt các cuộc xung đột tốn kém (Ukraine, Trung Đông) thông qua các thỏa thuận, nhằm tái thiết quyền lực và tập trung vào đối thủ chính trên trường quốc tế, Trung Quốc.Trong suốt giai đoạn kể từ khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, hoặc thậm chí trước đó, chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ vẫn duy trì vỏ bọc hành động vì nhân quyền, truyền bá dân chủ và 'trật tự dựa trên luật lệ' (rules-based order)[1], bảo vệ 'nguyên tắc thiêng liêng về sự bất khả xâm phạm của biên giới quốc gia', v.v.Chúng đã được tiến hành thông qua các thể chế quốc tế 'đa phương', nhìn bề ngoài có vẻ như là trung lập và trong đó tất cả các quốc gia đều có tiếng nói: Liên Hợp Quốc, WTO, IMF, v.v. Thực ra, đó chỉ là vỏ bọc. Các tổ chức này hoạt động như là sân khấu cải lương. Một là lợi ích của chủ nghĩa đế quốc Mỹ được thể hiện thông qua các thể chế này, hai là Mỹ sẽ hoàn toàn bỏ mặc chúng. Điều khác biệt của Trump là ông ta hoàn toàn không quan tâm đến bất kỳ những vở kịch quốc tế ấy. Trump dường như quyết tâm xé nát toàn bộ các điều ước quốc tế và thể hiện mọi thứ một cách cởi mở hơn, đúng như bản chất của chúng.Một số người lập luận rằng khi đối mặt với quyền lực không bị kiềm tỏa của Mỹ, ý tưởng về một thế giới đa cực là một điều gì đó tiến bộ, cho phép các quốc gia bị áp bức có chủ quyền lớn hơn, một lý tưởng mà chúng ta nên đấu tranh vì nó. Giờ đây, chúng ta có thể thấy thoáng qua bóng dáng của một thế giới 'đa cực' sẽ trông như thế nào: các cường quốc đế quốc chia cắt thế giới thành các phạm vi ảnh hưởng, uy hiếp các quốc gia yếu hơn phải khuất phục trước một trong số chúng.Tiếp sau đó là thời kỳ Chiến tranh Lạnh, một giai đoạn cân bằng tương đối giữa Hoa Kỳ và Liên Xô, hai cường quốc hạt nhân. Trên cơ sở sự thống trị của Hoa Kỳ, một loạt các thể chế đa phương chính thức đã được thành lập để kiểm soát quan hệ thế giới (Liên Hợp Quốc) và nền kinh tế thế giới (Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới được thành lập tại Hội nghị Bretton Woods). Sự cân bằng đó được củng cố bởi sự phục hồi kinh tế sau chiến tranh, một giai đoạn phát triển phi thường của lực lượng sản xuất và thị trường thế giới.Giai đoạn này kéo dài cho đến khi chủ nghĩa Stalin sụp đổ vào năm 1989-1991 và chủ nghĩa tư bản được phục hồi ở Nga và Trung Quốc. Điều đó đã tạo ra một bước ngoặt lớn khác trong tình hình thế giới. Hoa Kỳ đã trở thành cường quốc đế quốc thống trị, không bị bất kỳ ai thách thức.Vào năm 1991, chiến tranh đế quốc nhằm vào Iraq được tiến hành dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc, Nga đã bỏ phiếu thuận và Trung Quốc chỉ bỏ phiếu trắng. Hầu như không có sự phản đối nào đối với sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Về mặt kinh tế, Washington đã thúc đẩy toàn cầu hóa và 'chủ nghĩa tân tự do': tức là sự hội nhập sâu rộng hơn của thị trường thế giới, dưới sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc Mỹ, và giảm bớt các can thiệp của nhà nước vào kinh tế.Thời kỳ thống trị mà không bị các thế lực nào kiềm chế của chủ nghĩa đế quốc Mỹ đã dần bị xói mòn trong 35 năm qua, đến mức một tình hình hoàn toàn mới hiện đã xuất hiện.Bằng sự kiêu ngạo tột độ, Mỹ đã phát động các cuộc xâm lược Iraq và Afghanistan. Nhưng tại đây, lịch sử bắt đầu đảo ngược. Người Mỹ đã sa lầy vào các cuộc chiến không có khả năng giành được chiến thắng thắng này trong 15 năm, và đã phải trả cái giá rất lớn về chi phí và tổn thất nhân sự. Vào tháng 8 năm 2021, chúng buộc phải rút lui khỏi Afghanistan trong nhục nhã.Những trải nghiệm này khiến công chúng Mỹ không còn mặn mà với các cuộc phiêu lưu quân sự ở nước ngoài, và giới cầm quyền Mỹ rất e ngại việc triển khai binh lực ra nước ngoài. Cùng với sự trỗi dậy của các cường quốc khu vực và thế giới mới, tương quan cán cân lực lượng toàn cầu cũng đang thay đổi. Chủ nghĩa đế quốc Mỹ không rút ra được bài học nào từ những thất bại này. Họ từ chối thừa nhận tương quan lực lượng mới và thay vào đó cố gắng duy trì sự thống trị của mình, và do đó bị cuốn vào một loạt các cuộc xung đột mà chúng không thể giành chiến thắng.Sự suy tàn tương đối của chủ nghĩa đế quốc MỹChúng tôi phải nhấn mạnh rằng khi nói về sự suy tàn của chủ nghĩa đế quốc Mỹ, chúng ta đang nói đến một sự suy tàn tương đối. Tức là, sự suy tàn so với vị thế trước đây của nó so với các cường quốc cạnh tranh khác. Xét trên mọi phương diện, Hoa Kỳ vẫn là thế lực hùng mạnh và phản động nhất trên thế giới.Năm 1985, Hoa Kỳ chiếm 36% GDP thế giới. Hiện nay, con số này đã giảm xuống còn 26% (năm 2024). Trong cùng kỳ, Trung Quốc đã tăng trưởng từ 2,5% GDP thế giới lên 18,5%. Nhật Bản, quốc gia đạt đỉnh 18% vào năm 1995, hiện đã rớt chỉ còn 5,2%.Hoa Kỳ vẫn thống trị nền kinh tế thế giới thông qua việc kiểm soát thị trường tài chính. 58% dự trữ ngoại tệ của thế giới được nắm giữ bằng đô la Mỹ (trong khi chỉ có 2% được nắm giữ bằng đồng Nhân dân tệ Trung Quốc), mặc dù con số này đã giảm so với mức 73% vào năm 2001. Đồng đô la cũng chiếm 58% giá trị xuất khẩu của thế giới. Xét về dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng chảy ra (đại diện cho xuất khẩu vốn), Hoa Kỳ đứng đầu thế giới với 454 tỷ đô la Mỹ, trong khi Trung Quốc (bao gồm cả Hồng Kông) đứng thứ hai với 287 tỷ đô la Mỹ.Sức mạnh kinh tế của một quốc gia mang tầm ảnh hưởng trên trường quốc tế, nhưng bên cạnh đó cũng kéo theo việc nó phải có sức mạnh quân sự. Chi tiêu quân sự của Hoa Kỳ chiếm 40% tổng chi tiêu của thế giới, Trung Quốc đứng thứ hai với 12% và Nga đứng thứ ba với 4,5%. Hoa Kỳ chi tiêu nhiều hơn 10 quốc gia đứng ngay sau trong bảng xếp hạng cộng lại.Tuy nhiên, Hoa Kỳ không còn có thể tự nhận mình là bá chủ thế giới. Sức mạnh kinh tế khổng lồ của Trung Quốc và những bước tiến về sức mạnh quân sự, cùng với ưu thế quân sự mà Nga đã thể hiện trên chiến trường Ukraine, đặt ra cho nước này một thách thức đáng gờm. Do đó, ở mọi khía cạnh, những hạn chế trong sức mạnh toàn cầu của Mỹ đang bị phơi bày một cách tàn khốc.Sự suy giảm tương đối này thể hiện rõ trên phương diện kinh tế với việc một phần vốn tháo chạy khỏi đồng đô la, trái phiếu kho bạc Mỹ và cổ phiếu Mỹ. Với việc các công ty độc quyền của Mỹ phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các đối thủ quốc tế, đặc biệt là Trung Quốc, cổ phiếu Mỹ không còn được các nhà đầu tư coi là khoản đầu tư chắc chắn như trước đây. Tương tự, khi núi nợ liên bang của Mỹ ngày càng lớn, và chính phủ Mỹ phải dùng đến các biện pháp tài trợ thâm hụt ngân sách lớn hơn, trái phiếu kho bạc Mỹ (trái phiếu chính phủ) không còn được coi là nơi trú ẩn tài chính an toàn như trước đây. Điều này đã dẫn đến sự suy yếu của đồng đô la - bất chấp các biện pháp thuế quan của Mỹ - và sự thống trị của nó trên đấu trường tài chính toàn cầu.Điều này thể hiện việc 'thị trường tự điều chỉnh', đưa giá đồng tiền, tài sản và trái phiếu của Mỹ gần hơn với vị thế kinh tế thực sự suy yếu của chủ nghĩa tư bản Mỹ. Tuy nhiên, cũng như sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ và vai trò trước đây của nước này là người cầm trịch thế giới, không có lựa chọn thay thế khả thi nào cho đồng đô la khi nói đến thương mại và tài chính thế giới. Do đó, các chiến lược gia tư sản ngày càng lo ngại về tác động hỗn loạn lên hệ thống tài chính toàn cầu và nền kinh tế thế giới nếu niềm tin vào đồng đô la sụp đổ.Đây là một cách khác mà sự suy thoái tương đối của chủ nghĩa tư bản Hoa Kỳ và 'thế giới đa cực' đang nổi lên sẽ góp phần gây ra sự bất ổn và bất định lớn hơn trên quy mô toàn cầu. Từng bước một, tất cả các trụ cột của trật tự hậu chiến đang bị xói mòn và suy yếu, với những hậu quả chấn động - về kinh tế, quân sự và chính trị.Sức mạnh quân sự của NgaTuy không phải là một cường quốc kinh tế sánh ngang với Trung Quốc, nhưng Nga đã thiết lập được một nền tảng kinh tế và công nghệ vững chắc. Điều này đã giúp Nga chống chọi thành công với cuộc xung đột kinh tế chưa từng có mà phương Tây gây ra dưới danh nghĩa các 'lệnh trừng phạt'. Hơn nữa, Nga đã làm được điều đó trong khi tiến hành một cuộc chiến tranh đã đánh bại tất cả các hệ thống vũ khí mà chủ nghĩa đế quốc phương Tây. Nga đã xây dựng một đội quân hùng mạnh, ngang ngửa với lực lượng tổng hợp của các quốc gia châu Âu; xây dựng một ngành công nghiệp quốc phòng hùng mạnh, vượt trội hơn cả Hoa Kỳ và châu Âu về xe tăng, pháo binh, đạn dược, tên lửa và máy bay không người lái; và sở hữu kho vũ khí hạt nhân lớn nhất thế giới được thừa hưởng từ Liên Xô.Sau sự sụp đổ của Liên Xô và việc trấn lột tài sản từ nền kinh tế kế hoạch, giai cấp thống trị Nga đã cân nhắc đến việc được chấp nhận trên bàn đàm phán thế giới một cách bình đẳng. Chúng thậm chí còn đề xuất ý tưởng gia nhập NATO. Điều này đã bị bác bỏ sau đó. Hoa Kỳ muốn thống trị toàn diện và không bị ràng buộc trên toàn thế giới, và thấy không cần phải chia sẻ quyền lực với một nước Nga yếu ớt và đang chìm trong khủng hoảng.Nỗi nhục nhã của Nga đã được phơi bày trắng trợn, đầu tiên là khi Đức và Hoa Kỳ dàn dựng một kịch bản phản động nhằm chia cắt Nam Tư khỏi phạm vi ảnh hưởng lâu đời của Nga, và sau đó là vụ ném bom Serbia năm 1999. Yeltsin, một gã nát rượu ngớ ngẩn và là con rối của chủ nghĩa đế quốc Mỹ, đại diện cho mối quan hệ phụ thuộc đó.Tuy nhiên, khi Nga dần phục hồi sau khủng hoảng kinh tế, giới cầm quyền không còn sẵn sàng chấp nhận bị sỉ nhục trên trường quốc tế. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự trỗi dậy của Putin, một kẻ theo chủ nghĩa Bonaparte xảo quyệt, người đã thao túng con đường lên nắm quyền bằng đủ mọi thủ đoạn.Nga bắt đầu đẩy lùi cuộc Đông tiến của NATO. Trong chiến dịch mở rộng ảnh hưởng về phía Đông này, NATO đã phá vỡ mọi lời hứa mà chúng đã đưa ra với người Nga vào năm 1990, khi cam kết sẽ không mở rộng NATO về phía đông, để đổi lấy việc tạo ra một nước Đức thống nhất gia nhập liên minh.Năm 2008, Nga đã tiến hành một cuộc chiến tranh ngắn ngày nhưng hiệu quả ở Gruzia, tiêu diệt quân đội của nước này vốn được NATO huấn luyện và vũ trang. Đó là phát súng cảnh cáo đầu tiên của Nga, báo hiệu rằng họ sẽ không còn chấp nhận sự xâm lược của phương Tây. Syria và Ukraine là những nước tiếp theo. Tại mỗi quốc gia này, sức mạnh của Nga so với chủ nghĩa đế quốc Mỹ đã được đặt lên bàn cân. Trong khi đó, sự suy yếu tương đối của chủ nghĩa đế quốc Mỹ càng được thể hiện rõ hơn qua việc chúng rút quân khỏi Afghanistan một cách nhục nhã vào tháng 8 năm 2021.Cuộc xâm lược Ukraine của Nga là kết luận logic cho việc phương Tây từ chối đáp ứng những lo ngại về an ninh quốc gia của Nga, trong đó yêu cầu trung lập đối với Ukraine và chấm dứt NATO mở rộng về phía đông. Khi Donald Trump khẳng định rằng cuộc chiến này là không cần thiết, và nếu ông ta là tổng thống, nó sẽ không bao giờ xảy ra, thì điều này có lẽ đúng. Chủ nghĩa đế quốc Mỹ và các đồng minh châu Âu của chúng nhận thức rõ rằng việc Ukraine trở thành thành viên NATO là một ranh giới đỏ xét từ góc độ lợi ích an ninh quốc gia của Nga. Bất chấp điều này, chúng vẫn quyết định mời Ukraine nộp đơn xin gia nhập NATO vào năm 2008. Đây là một hành động khiêu khích trắng trợn, mà về mặt logic sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng nhất. Chính bước đi tai hại này cuối cùng đã dẫn đến chiến tranh.Phương Tây khăng khăng đòi Ukraine 'quyền gia nhập NATO' - trong khi quy chế trung lập, lệnh cấm các căn cứ quân sự nước ngoài và việc không tham gia vào các khối quân sự là điều đã được thỏa thuận, và thậm chí đã được ghi vào tuyên ngôn độc lập của Ukraine. Giám đốc CIA, William J. Burns, đã nhiều lần cảnh báo về điều này. Nhưng nhóm hiếu chiến điều hành chính sách đối ngoại của chính quyền Biden - và cả bản thân Joe Biden - lại có ý tưởng khác.Biden nghĩ rằng ông có thể sử dụng Ukraine làm bia đỡ đạn trong chiến dịch làm suy yếu Nga và làm tê liệt vai trò của nước này trên thế giới. Một quốc gia như Nga, đối thủ của chủ nghĩa đế quốc Mỹ, không thể được phép đe dọa quyền bá chủ toàn cầu của Mỹ. Nhưng sự can thiệp của Mỹ vào Ukraine còn có một mục tiêu khác, mặc dù ít rõ ràng hơn, đó là Đức và EU. Việc cắt đứt mối liên kết giữa EU và Nga đồng nghĩa với việc làm suy yếu nền tảng của chủ nghĩa tư bản Đức. Điều này giải thích tại sao ban đầu, đặc biệt là Đức, không mấy mặn mà với chiến tranh, nhưng do quá yếu để có một 'vị trí thứ ba', nên chắc chắn phải theo chân chủ nghĩa đế quốc Mỹ một khi nó nổ ra.Vào tháng 3 năm 2022, Biden, tự mãn với sự kiêu ngạo của mình, thậm chí còn nêu ra ý tưởng thay đổi chế độ ở Moscow! Cùng với người châu Âu, ông ta tin chắc rằng các lệnh trừng phạt kinh tế và sự kiệt quệ về quân sự sẽ đẩy Nga đến bờ vực sụp đổ. Chúng đã đánh giá thấp nghiêm trọng sức mạnh kinh tế và quân sự của Nga. Kết quả là, chủ nghĩa đế quốc Mỹ đã thấy mình bị cuốn vào một cuộc chiến không có khả năng giành chiến thắng, gây ra sự hao tổn khổng lồ về nguồn lực tài chính và quân sự.Trump giờ đây khẳng định rằng thảm họa này không phải do ông ta gây ra. Trump nói rằng: "Đây không phải là cuộc chiến của tôi. Đây là cuộc chiến của Joe Biden." Và điều đó hoàn toàn đúng. Các chiến lược gia của tư bản hoàn toàn có khả năng mắc sai lầm dựa trên những tính toán sai lầm. Và đây là một ví dụ điển hình. Khi Trump nói rằng cuộc chiến ở Ukraine không đại diện cho 'lợi ích cốt lõi' của Mỹ, ông ta hoàn toàn đúng. Mỹ đang phải đối mặt với mối đe dọa lớn hơn nhiều ở Châu Á và Thái Bình Dương đến từ sức mạnh đang lên của Trung Quốc, bên cạnh các vấn đề khác ở Trung Đông và một cuộc khủng hoảng kinh tế đang gia tăng. Điều đó giải thích sự vội vàng của ông ta trong nỗ lực giải kéo chủ nghĩa đế quốc Mỹ khỏi vũng lầy chết chóc ở Ukraine. Nhưng những vấn đề do Biden và tay sai châu Âu tạo ra đang chứng minh rằng chúng không dễ để được giải quyết.Những ông hoàng bà tướng đứng ra tổ chức các chương trình nghị sự ở Washington và London đã phá hoại một cách có hệ thống mọi nỗ lực nhằm mang lại một giải pháp hòa bình ngay cả trước khi chiến tranh bắt đầu. Vào tháng 4 năm 2022, các cuộc đàm phán ở Thổ Nhĩ Kỳ giữa Ukraine và Nga đã khá tiến triển và có thể dẫn đến kết thúc chiến tranh, trên cơ sở chấp nhận một số yêu cầu của Nga. Chủ nghĩa đế quốc Mỹ, được hỗ trợ bởi tay sai người Anh là Boris Johnson, đã phá hỏng các cuộc đàm phán, gây sức ép buộc Zelensky không ký vào lời hứa hỗ trợ không giới hạn, điều sẽ dẫn đến chiến thắng hoàn toàn của Ukraine. Khi tình hình biến đổi như hiện tại, chính những nước châu Âu, dẫn đầu là Đức, Pháp và một lần nữa là Anh, đang gây áp lực buộc Trump phải tiếp tục hỗ trợ Ukraine và chính chúng đang thổi bùng ngọn lửa chiến tranh. Trong đầu chúng chất chứa đầy những toan tính viển vông: Đế quốc Châu Âu muốn trói buộc Hoa Kỳ và ngăn chặn việc rút quân khỏi châu Âu. Cùng lúc, với máu của hàng chục ngàn sinh mạng người Ukraine và Nga đang đổ dài trên chiến trường, chúng muốn câu giờ kéo - để có thể bắt đầu tái vũ trang cho chính mình.Vào đầu cuộc chiến, chính quyền Biden tin rằng chúng có khả năng cô lập Nga trên trường quốc tế và biến Putin thành một kẻ tội đồ. Nhưng thay vào đó, cuộc chiến đã làm sâu sắc thêm những căng thẳng hiện có trong quan hệ thế giới, và lần lượt phơi bày sự dối trá về một 'cộng đồng quốc tế' hùng mạnh tụ tập với nhau đằng sau chủ nghĩa đế quốc Mỹ.Ngoài EU, Nhật Bản, Anh và Canada, Mỹ đã phải vật lộn để thuyết phục đại đa số các tầng lớp thống trị trên thế giới ủng hộ cuộc chiến ủy nhiệm với Nga. Đây là một sự khẳng định rõ ràng rằng Mỹ không thể phát huy ảnh hưởng chính trị như ba mươi năm trước. Như Larry Summers, cựu Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ, đã cảnh báo về Việc phương Tây ngày càng bị cô lập: "Có một sự đồng thuận ngày càng gia tăng với việc chia rẽ, và - có lẽ còn đáng lo ngại hơn - tôi cảm giác rằng phe mà chúng ta có không phải là phe tốt nhất để hợp tác."Ngày nay, Hoa Kỳ đang phải đối mặt với một thất bại nhục nhã ở Ukraine. Các lệnh trừng phạt đã không mang lại hiệu quả mong muốn. Thay vì phải chịu đựng sự sụp đổ kinh tế, Nga đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định vượt xa phương Tây. Thay vì bị cô lập, Nga hiện đã thiết lập mối quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn với Trung Quốc và một số quốc gia chủ chốt nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Các quốc gia như Ấn Độ, Ả Rập Xê Út, Thổ Nhĩ Kỳ và các nước khác đã giúp Nga lách các lệnh trừng phạt.Trung Quốc và Nga hiện đã trở thành những đồng minh thân thiết hơn nhiều, đoàn kết phản đối sự thống trị thế giới của Hoa Kỳ, và đã tập hợp được một loạt các quốc gia khác xung quanh họ. Khi thất bại của Hoa Kỳ ở Ukraine cuối cùng được nhận ra, nó sẽ gây ra những hậu quả to lớn và lâu dài cho quan hệ thế giới, làm suy yếu hơn nữa quyền lực của chủ nghĩa đế quốc Mỹ trên toàn thế giới.Thất bại của Hoa Kỳ và NATO ở Ukraine sẽ gửi đi một thông điệp mạnh mẽ. Cường quốc đế quốc hùng mạnh nhất thế giới không phải lúc nào cũng có thể áp đặt ý chí của mình. Hơn nữa, Nga đã vươn lên từ đó với một đội quân hùng mạnh, được thử thách bởi các phương pháp và kỹ thuật mới nhất của chiến tranh hiện đại, cùng với một tổ hợp công nghiệp quân sự hùng mạnh.Chính sách của Trump ở đây thể hiện một bước ngoặt lớn so với chính sách trước đây của chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ. Ông đã thừa nhận rằng cuộc chiến chống lại Nga này không thể giành chiến thắng và do đó đang cố gắng kéo Hoa Kỳ ra khỏi cuộc chiến. Cũng có một tính toán rằng việc đạt được một thỏa thuận với Nga công nhận lợi ích an ninh quốc gia của họ (tức là lợi ích của chủ nghĩa đế quốc Nga) có thể kéo họ ra khỏi liên minh chặt chẽ với Trung Quốc, đối thủ chính của chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ trên trường thế giới. Tuy nhiên, không có khả năng những tính toán này sẽ hiệu quả, vì trong ba năm chiến tranh, phương Tây đã đẩy Nga quá gần Trung Quốc để chúng có thể dễ dàng đảo ngược quá trình này. Các tuyên bố và hành động gần đây của cả chính phủ Nga và Trung Quốc cho thấy cả hai bên đều coi sự xích lại gần nhau là chiến lược đúng đắn.Trung Quốc trỗi dậy như một thế lực đế quốcSự chuyển mình nhanh chóng của Trung Quốc từ một nền kinh tế lạc hậu cùng cực thành một quốc gia tư bản hùng mạnh là điều hiếm có trong lịch sử hiện đại. Trong một khoảng thời gian ngắn đáng kinh ngạc, Trung Quốc đã vươn lên đến vị thế có thể thách thức sức mạnh của chủ nghĩa đế quốc hùng mạnh Hoa Kỳ.Trung Quốc ngày nay hoàn toàn không có điểm chung nào với một quốc gia yếu kém, nửa phong kiến, nửa thuộc địa bị thống trị như năm 1938. Trên thực tế, hiện tại, Trung Quốc không chỉ là một quốc gia tư bản, mà còn mang đầy đủ những đặc điểm của một cường quốc đế quốc.Không thể lý giải sự chuyển đổi này nếu không hiểu vai trò then chốt của Cách mạng Trung Hoa năm 1949, cuộc cách mạng đã xóa bỏ chế độ địa chủ và chủ nghĩa tư bản, tạo nền tảng cho nền kinh tế kế hoạch hóa quốc hữu hóa, vốn là điều kiện tiên quyết để đưa Trung Quốc từ một quốc gia bán thuộc địa lạc hậu trở thành một cường quốc kinh tế như hiện nay.Là một quốc gia đến sau trên trường quốc tế, Trung Quốc đã phải đấu tranh để kiểm soát các nguồn nguyên liệu thô và năng lượng cho công nghiệp, các lĩnh vực đầu tư cho tư bản, các tuyến đường thương mại cho xuất nhập khẩu, và thị trường cho sản phẩm của mình. Trong tất cả các lĩnh vực này, Trung Quốc đã đạt được những thành công đáng kể.Sự trỗi dậy 30 năm của Trung Quốc là kết quả của việc đầu tư ồ ạt vào tư liệu sản xuất và sự phụ thuộc vào thị trường thế giới. Ban đầu, Trung Quốc đã tận dụng nguồn lao động giá rẻ dồi dào để xuất khẩu các mặt hàng như dệt may và đồ chơi ra thị trường thế giới.Hiện nay, Trung Quốc là một nền kinh tế tư bản tiên tiến về công nghệ, thống trị thế giới trong một loạt thị trường công nghệ cao (xe điện và pin EV, pin quang điện, nguyên liệu kháng sinh, máy bay không người lái thương mại, cơ sở hạ tầng thông tin di động 5G, nhà máy điện hạt nhân, v.v.), không chỉ về khối lượng hàng hóa mà còn về tiến bộ công nghệ.Trung Quốc cũng là quốc gia dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực robot. Nước này đứng thứ ba thế giới về mật độ robot công nghiệp, với 470 trên 10.000 công nhân sản xuất, mặc dù lực lượng lao động sản xuất của nước này là hơn 37 triệu người. Con số này chỉ đứng sau Hàn Quốc (1.012) và Singapore (770), và đứng trên Đức (429) và Nhật Bản (419), trong khi vẫn cao hơn nhiều so với Mỹ (295). Đây là những con số của năm 2023, và thứ hạng của Trung Quốc có thể đã được cải thiện kể từ đó, khi vào năm 2023, nước này chiếm 51% tổng số robot công nghiệp mới được lắp đặt trên toàn thế giới.Xét về xuất khẩu tư bản, Trung Quốc chỉ đứng sau Hoa Kỳ. Năm 2023, Hoa Kỳ chiếm 32,8 phần trăm dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu chảy ra, trong khi Trung Quốc và Hồng Kông chiếm tổng cộng 20,1 phần trăm. Xét về lượng FDI tích lũy, Hoa Kỳ chiếm 15,1 phần trăm tổng số toàn cầu, trong khi Trung Quốc và Hồng Kông chiếm 11,3 phần trăm. Mặc dù Hoa Kỳ thống trị trong lĩnh vực này, kế hoạch chiến lược dài hạn cho các hoạt động xuất khẩu vốn này đã cho phép Trung Quốc, trong hai thập kỷ qua, thực hiện một quá trình kiểm soát đáng kể đối với các tuyến đường thương mại hàng hải và sản xuất và tinh chế các khoáng sản quan trọng đối với đại đa số các công nghệ hiện đại. Trung Quốc thống trị khai thác đất hiếm toàn cầu (69 phần trăm) và tinh chế (92 phần trăm). Trung Quốc cũng thống trị việc tinh chế các khoáng sản quan trọng như coban (80 phần trăm), niken (68 phần trăm) và lithium (60 phần trăm). Ngoài ra, Trung Quốc đang tiến bộ trong việc kiểm soát việc khai thác các trữ lượng lớn, chẳng hạn như ở Congo (nơi Trung Quốc kiểm soát 15 trong số 19 mỏ coban tốt nhất của đất nước) và Argentina (43% lượng lithium xuất khẩu sang Trung Quốc, so với 11% sang Mỹ). Điều này không chỉ thiết yếu để thống trị sản xuất của các ngành công nghệ quan trọng được đề cập ở trên, mà còn thiết lập một số biện pháp kiểm soát nhất định đối với việc xuất khẩu các khoáng sản này sang Mỹ, một con bài mặc cả quan trọng trong các cuộc đàm phán với Trump về thuế quan.Do cách thức chủ nghĩa tư bản được phục hồi ở Trung Quốc, nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Nhà nước đã có chính sách chủ động thúc đẩy và tài trợ cho sự phát triển công nghệ. "Made in China 2025" có mục tiêu đạt được bước tiến vượt bậc trong các ngành công nghiệp chủ chốt, đồng thời giúp đất nước tự chủ và không phụ thuộc vào phương Tây. Chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của Trung Quốc đã tăng đáng kể và gần ngang bằng với Hoa Kỳ.Thành công này không thể đạt được mà không tạo ra những mâu thuẫn và xung đột ngày càng gia tăng với các quốc gia tư bản khác, cuối cùng dẫn đến cuộc chiến thương mại hiện nay với Hoa Kỳ.Sau sự sụp đổ của Liên Xô và việc mở ra các thị trường mới theo chính sách toàn cầu hóa, sự phát triển của nền kinh tế tư bản ở Trung Quốc ban đầu được các nhà kinh tế và nhà đầu tư phương Tây coi là một cơ hội vàng.Các nhà đầu tư phương Tây đã vội vã xây dựng nhà máy ở Trung Quốc, nơi họ có thể khai thác nguồn lao động giá rẻ dường như vô tận. Từ năm 1997 đến năm 2019, 36% tăng trưởng tư bản toàn cầu diễn ra tại Trung Quốc. Sự thâm nhập của tư bản Mỹ vào Trung Quốc lớn đến mức hai nền kinh tế dường như gắn bó mật thiết với nhau.Tăng trưởng ở Trung Quốc thực sự đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế thế giới trong nhiều thập kỷ. Năm 2008, giới tư sản phương Tây thậm chí còn hy vọng rằng Trung Quốc sẽ giúp kéo nền kinh tế thế giới thoát khỏi suy thoái. Tuy nhiên, như chúng tôi đã chỉ ra vào thời điểm đó, điều này có một nhược điểm rất nghiêm trọng và đáng lo ngại đối với họ.Những nhà máy này, sử dụng công nghệ hiện đại, chắc chắn sẽ sản xuất ra một lượng lớn hàng hóa giá rẻ phải xuất khẩu, vì nhu cầu về chúng ở chính Trung Quốc vẫn còn hạn chế. Cuối cùng, điều này đã gây ra những vấn đề nghiêm trọng cho Hoa Kỳ và các nền kinh tế phương Tây khác.Mọi thứ đã thay đổi theo chiều hướng ngược lại. Câu hỏi ngày càng được đặt ra: ai đang giúp đỡ ai? Đúng là các nhà đầu tư phương Tây đã thu được lợi nhuận lớn, nhưng Trung Quốc đang thiết lập năng lực sản xuất tiên tiến, chuyên môn công nghệ, cơ sở hạ tầng và lực lượng lao động lành nghề. Điều này ngày càng bị coi là một mối đe dọa, đặc biệt đối với Mỹ.Trung Quốc hiện đã trở thành nhà cung cấp không thể thay thế cho các nền xuất toàn cầu, dù là sản xuất các sản phẩm tiêu dùng hoàn thiện như iPhone hay các mặt hàng thiết yếu và linh kiện. Trung Quốc là nhà cung cấp chính cho 36% lượng hàng nhập khẩu của Mỹ, đáp ứng hơn 70% nhu cầu của Mỹ đối với các sản phẩm này.Trung Quốc đã trở thành đối thủ cạnh tranh trên tất cả các lình vực của Mỹ trên trường quốc tế. Đây chính là ý nghĩa thực sự của cuộc chiến thương mại do Trump gây ra đối với quốc gia này. Đây là cuộc đấu tranh giữa hai cường quốc đế quốc nhằm khẳng định sức mạnh tương đối của họ trên thị trường thế giới.Washington đã sử dụng những biện pháp cực đoan nhất để làm như vậy, cấm bán các vi mạch tiên tiến nhất cho Trung Quốc, cấm bán các máy in li-tô tiên tiến nhất, và ngăn cản các công ty như Huawei đấu thầu các hợp đồng cơ sở hạ tầng 5G ở một số quốc gia, v.v.Nhưng những nỗ lực của Mỹ nhằm ngăn chặn sự phát triển công nghệ tiên tiến của Trung Quốc đã phản tác dụng. Đáp lại, Trung Quốc đã đẩy nhanh nỗ lực hướng tới mục tiêu tự chủ. Mặc dù vẫn phải đối mặt với những khó khăn, chẳng hạn như do không được tiếp cận các máy in thạch bản EUV tiên tiến nhất, vốn được sử dụng để sản xuất các bộ vi xử lý tiên tiến nhất, Trung Quốc đã vận dụng sự khéo léo để tìm ra những giải pháp tạm thời.Đúng là, bất chấp những tiến bộ, nền kinh tế Trung Quốc vẫn tồn tại nhiều mâu thuẫn. Năng suất lao động ở Trung Quốc đã tăng lên nhờ sự phát triển của khoa học, công nghiệp và công nghệ, trong khi ở châu Âu, năng suất này trì trệ trong một thời gian dài và ở Mỹ chỉ tăng trưởng khiêm tốn trong những năm gần đây. Tuy nhiên, năng suất lao động nhìn chung của Trung Quốc vẫn còn kém xa so với Hoa Kỳ. Sẽ cần thời gian để thu hẹp khoảng cách.Cũng có thể giả định rằng tốc độ tăng trưởng chưa từng có mà Trung Quốc đạt được trong vài thập kỷ qua sẽ không được duy trì. Thực tế, sự suy thoái đã bắt đầu. Trong những năm 1990, Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ chóng mặt là 9% mỗi năm, với mức đỉnh điểm là 14%. Từ năm 2012 đến năm 2019, mức tăng trưởng chỉ từ 6 đến 7%. Hiện nay, con số này vào khoảng 5%. Tuy nhiên, nền kinh tế Trung Quốc nhìn chung vẫn đang tăng trưởng nhanh hơn các nước tư bản tiên tiến ở phương Tây.Tất nhiên, chính vì đã trở thành một nền kinh tế tư bản và hội nhập sâu rộng vào thị trường thế giới, Trung Quốc cuối cùng cũng phải đối mặt với tất cả những vấn đề đi kèm. Hiện đã có sự chênh lệch giữa các vùng trong phát triển kinh tế cũng như bất bình đẳng thu nhập nghiêm trọng. Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng trong nhóm lao động nhập cư và thanh niên.Các gói kích thích kinh tế khổng lồ, cùng với các biện pháp Keynes, đã dẫn đến sự gia tăng nợ. Nợ chính phủ trên GDP, vốn chỉ ở mức 23% vào năm 2000, nay đã tăng lên 60,5% vào năm 2024. Đây là một mức tăng đáng kể, nhưng vẫn thấp hơn hầu hết các nền kinh tế tư bản tiên tiến. Tuy nhiên, tổng nợ (nhà nước, doanh nghiệp và hộ gia đình) đã lên tới 300% GDP.Sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ và sự suy thoái của thương mại thế giới chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến Trung Quốc. Cách duy nhất để Trung Quốc vượt qua cuộc khủng hoảng này là đẩy mạnh hơn nữa việc xả sản lượng dư thừa ra thị trường thế giới, điều này sẽ làm gia tăng căng thẳng trên phạm vi toàn cầu và đồng thời làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng của toàn bộ hệ thống.Trong cuộc chiến khốc liệt giữa hai gã khổng lồ kinh tế này, câu thẳng thắn được đặt ra là: ai sẽ thắng thế? Các bài báo trên báo chí phương Tây tràn ngập những đánh giá tiêu cực và những cảnh báo đáng lo ngại về tương lai của nền kinh tế Trung Quốc.Báo chí phương Tây luôn tìm cách vẽ nên một bức tranh rất đen tối về nền kinh tế Trung Quốc – như họ vẫn luôn làm khi so sánh với nền kinh tế Nga, tuy nhiên, nền kinh tế này vẫn đang duy trì tốc độ tăng trưởng lành mạnh khoảng 4 đến 5% mỗi năm. Điều này khó có dẫn đến kết luận rằng nền kinh tế Trung Quốc đang bên bờ vực sụp đổ.Trung Quốc chắc chắn không tránh khỏi khủng hoảng, nhưng họ cũng có nguồn lực đáng kể để đối mặt với thách thức này và thoát khỏi nó với ít thiệt hại hơn nhiều so với những gì báo chí phương Tây thường ca ngợi. Trên hết, cần lưu ý rằng Trung Quốc, mặc dù là một quốc gia tư bản, nó vẫn mang nhiều tính chất nhiều đặc thù.Trên thực tế, đây là một nền kinh tế vẫn duy trì đáng kể các yếu tố kiểm soát, can thiệp và hoạch định của nhà nước. Điều này rất có lợi cho Trung Quốc khi so sánh với các quốc gia như Hoa Kỳ.Ngoài ra còn có những yếu tố chính trị, văn hóa và tâm lý quan trọng có thể đóng vai trò quyết định trong bất kỳ cuộc xung đột nào với các cường quốc đế quốc nước ngoài. Người dân Trung Quốc có những ký ức dài và cay đắng về quá khứ bị nô dịch, bóc lột và sỉ nhục dưới bàn tay của chủ nghĩa đế quốc.Dù họ có căm ghét giai cấp thống trị của mình đến đâu, thì lòng căm thù đế quốc nước ngoài vẫn sâu sắc hơn nhiều và có thể tạo ra sự ủng hộ mạnh mẽ cho chế độ trong cuộc đấu tranh với Hoa Kỳ.Giới cầm quyền Hoa Kỳ đã phải hoảng loạn khi theo dõi sự trỗi dậy của Trung Quốc. Họ đã thể hiện thái độ hiếu chiến, một mặt thể hiện qua việc Trump tăng thuế quan một cách vô lý, mặt khác là những hành động khiêu khích liên tục liên quan đến Đài Loan.Những kẻ hiếu chiến ở Washington liên tục cáo buộc Trung Quốc lên kế hoạch xâm lược hòn đảo mà Trung Quốc coi là coi là một nhà nước chống chế, vốn dĩ thuộc về chúng.Nhưng giới cầm quyền Trung Quốc được điều hành bởi những kẻ đã học được nghệ thuật kiên nhẫn trong ngoại giao từ lâu. Chúng không cần phải xâm lược Đài Loan. Chúng biết rằng, sớm hay muộn, hòn đảo này sẽ được thống nhất với đại lục. Chúng đã chờ đợi hàng thập kỷ để giành lại quyền kiểm soát Hồng Kông từ tay Anh. Và chúng không thấy lý do gì để tìm kiếm một giải pháp quân sự vội vàng cho vấn đề này.Chỉ một tính toán sai lầm nghiêm trọng từ phía những kẻ hiếu chiến ở Washington, hoặc một quyết định vội vàng của những người theo chủ nghĩa dân tộc Đài Loan nhằm tuyên bố độc lập, mới có thể khiến họ hành động quân sự. Trong hoàn cảnh như vậy, những người ở Bắc Kinh sẽ nắm giữ tất cả các quân bài.Đài Loan không thể nào chống đỡ được lâu dài trước sức mạnh của lục quân và hải quân Trung Quốc, vốn chỉ đóng quân cách đó vài dặm, trong khi người Mỹ sẽ phải điều động một lực lượng lớn để đối phó với những điều kiện khó khăn và nguy hiểm trên toàn bộ đại dương.Dù sao đi nữa, không có dấu hiệu nào cho thấy Donald Trump đang tìm kiếm xung đột quân sự với Trung Quốc. Ông ta thích những phương pháp khác – áp đặt các lệnh trừng phạt tàn khốc và thuế quan cao – để buộc Trung Quốc phải khuất phục. Nhưng Trung Quốc không có ý định khuất phục, dù là trong một cuộc chiến kinh tế hay xung đột quân sự thực sự.Cho đến gần đây, Trung Quốc chủ yếu thể hiện sức mạnh thông qua các biện pháp kinh tế, nhưng họ cũng đang xây dựng sức mạnh quân sự. Trung Quốc gần đây đã công bố tăng 7,2% chi tiêu quốc phòng. Họ đã sở hữu một lực lượng lục quân hùng mạnh và hiện đang trong quá trình phát triển một lực lượng hải quân hùng mạnh và hiện đại không kém để bảo vệ lợi ích của mình trên biển cả.Một bài báo gần đây của BBC cho biết hiện họ sở hữu lực lượng hải quân lớn nhất thế giới, vượt qua cả Hoa Kỳ. Cũng không đúng khi nói rằng Lực lượng Vũ trang của họ dựa trên công nghệ và trang thiết bị lạc hậu. Bài báo cũng nêu rõ:“Theo Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, Trung Quốc hiện đang hoàn toàn cam kết phát triển chiến tranh ‘trí tuệ hóa’, hay các phương pháp quân sự tương lai dựa trên công nghệ đột phá - đặc biệt là trí tuệ nhân tạo.”Bài báo còn cho biết thêm:“Viện Hàn lâm Khoa học Quân sự Trung Quốc đã được giao nhiệm vụ đảm bảo điều này xảy ra, thông qua 'hợp nhất dân sự-quân sự', hay nói cách khác là kết nối các công ty công nghệ tư nhân Trung Quốc với ngành công nghiệp quốc phòng của nước này. Các báo cáo cho thấy Trung Quốc có thể đã sử dụng trí tuệ nhân tạo trong robot quân sự và hệ thống dẫn đường tên lửa, cũng như máy bay không người lái và tàu hải quân không người lái.”Hơn nữa, Trung Quốc sở hữu một trong những chương trình vũ trụ năng động nhất thế giới. Trong số các sứ mệnh khác, nước này có kế hoạch đầy tham vọng là xây dựng một trạm vũ trụ trên Mặt Trăng và thăm dò Sao Hỏa. Bên cạnh lợi ích khoa học nội tại, những kế hoạch này rõ ràng liên quan đến một chương trình tái vũ trang đầy tham vọng.Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Trung Quốc hiện là một thực tế đã được xác lập. Việc phủ nhận điều này là vô nghĩa. Xét về mặt khách quan, đây cũng không phải là một diễn biến tiêu cực từ góc nhìn của cách mạng thế giới, bởi nó đã tạo ra một giai cấp công nhân đông đảo, một giai cấp đã quen với việc mức sống tăng đều đặn trong một thời gian dài. Đây là một giai cấp công nhân trẻ trung, tươi mới, không bị ràng buộc bởi thất bại, không bị ràng buộc bởi các tổ chức cải cách."Trung Quốc là một con rồng đang ngủ. Hãy để Trung Quốc ngủ yên, vì khi nó thức dậy, nó sẽ làm rung chuyển thế giới" là một câu nói thường được cho là của Napoleon. Dù ông có nói hay không, câu nói này chắc chắn đúng với giai cấp vô sản Trung Quốc hùng mạnh.Sự cân bằng giữa các thế lựcSự suy yếu tương đối của chủ nghĩa đế quốc Mỹ và sự trỗi dậy của Trung Quốc đã tạo ra một tình huống mà một số quốc gia có thể cân bằng lẫn nhau và giành được một phần nhỏ quyền tự chủ để theo đuổi lợi ích riêng, ít nhất là ở cấp độ khu vực. Điều này bao gồm các quốc gia như Thổ Nhĩ Kỳ, Ả Rập Xê Út, Ấn Độ và các quốc gia khác ở các mức độ khác nhau.Sự trỗi dậy của BRICS, được chính thức thành lập vào năm 2009, thể hiện nỗ lực của Trung Quốc và Nga nhằm củng cố vị thế trên trường quốc tế, bảo vệ lợi ích kinh tế và ràng buộc một loạt quốc gia vào phạm vi ảnh hưởng của họ.Việc chủ nghĩa đế quốc Mỹ áp dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế trên diện rộng đối với Nga đã đẩy nhanh quá trình này. Trong quá trình xây dựng các cơ chế để tránh và vượt qua các biện pháp trừng phạt, Nga đã thiết lập một loạt liên minh với các quốc gia khác, bao gồm Ả Rập Xê Út, Ấn Độ, Trung Quốc và nhiều quốc gia khác.Thay vì thể hiện sức mạnh của Hoa Kỳ, việc các lệnh trừng phạt thất bại đã bộc lộ những hạn chế trong khả năng áp đặt ý chí của chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ và thúc đẩy một số quốc gia xem xét các giải pháp thay thế cho sự thống trị của Hoa Kỳ trong các giao dịch tài chính. Thành viên của BRICS đã tăng lên, thể hiện qua số lượng các quốc gia mới được mời hoặc nộp đơn xin gia nhập.Khi nhìn nhận vấn đề này, điều quan trọng là phải đặt các quốc gia trong mối quan hệ tương đối với nhau. Mặc dù những thay đổi đó rất quan trọng, BRICS vẫn tiềm ẩn đủ loại mâu thuẫn. Brazil, mặc dù là một phần của BRICS, nhưng đồng thời cũng là một phần của Mercosur, khối thương mại tự do Nam Mỹ, đang đàm phán một hiệp định thương mại tự do với EU.Ấn Độ là một phần của khối này, nhưng lại không muốn cho phép các thành viên mới gia nhập vì điều đó sẽ làm giảm vị thế của họ trong khối. Ấn Độ cũng có 'quan hệ đối tác chiến lược' với Hoa Kỳ; là một phần của liên minh an ninh và quân sự Quad với Hoa Kỳ, Nhật Bản và Úc; và Hải quân Ấn Độ thường xuyên tiến hành các cuộc tập trận quân sự với Hoa Kỳ.Điều đáng chú ý ở đây là một quốc gia như Ấn Độ, một đồng minh của Hoa Kỳ và là đối thủ của Trung Quốc, đã đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp Nga vượt qua các lệnh trừng phạt của Hoa Kỳ. Ấn Độ mua dầu của Nga với giá ưu đãi rồi bán lại cho châu Âu dưới dạng sản phẩm tinh chế với giá cao hơn. Hiện tại, Hoa Kỳ đã quyết định không áp dụng bất kỳ biện pháp nào chống lại Ấn Độ.Cho đến nay, BRICS chỉ là một liên minh lỏng lẻo giữa các quốc gia. Chính sách cậy quyền mang tính đế quốc của Hoa Kỳ đối với các đối thủ đang đẩy họ xích lại gần nhau hơn và khuyến khích các nước khác gia nhập.Khủng hoảng ở Châu ÂuTrong khi sức mạnh và ảnh hưởng của Hoa Kỳ trên toàn cầu đang suy giảm tương đối, các cường quốc đế quốc châu Âu cũ – Anh, Pháp, Đức và các nước khác – đã suy yếu hơn nhiều so với thời kỳ hoàng kim trước đây, trở thành những cường quốc hạng hai trên thế giới. Điều đáng chú ý là vai trò đế quốc của các nước châu Âu đã suy yếu đáng kể trong thập kỷ qua. Ví dụ, một loạt các cuộc đảo chính quân sự đã đẩy Pháp ra khỏi Trung Phi và Sahel, phần lớn là vì lợi ích của Nga.Các cường quốc châu Âu đã đi theo chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh ủy nhiệm Ukraine chống lại Nga, điều này đã gây ra tác động tàn phá đối với nền kinh tế của họ. Kể từ khi chủ nghĩa Stalin sụp đổ vào năm 1989-1991, Đức đã theo đuổi chính sách mở rộng ảnh hưởng sang phương Đông và thiết lập mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với Nga. Ngành công nghiệp Đức đã được hưởng lợi từ nguồn năng lượng giá rẻ của Nga. Trước chiến tranh Ukraine, hơn một nửa lượng khí đốt tự nhiên, một phần ba tổng lượng dầu mỏ và một nửa lượng than nhập khẩu của Đức đến từ Nga.Đây là một trong những lý do cho sự thành công của ngành công nghiệp Đức trên thế giới, hai lý do còn lại là việc bãi bỏ quy định đối với thị trường lao động (được thực hiện dưới thời các chính phủ dân chủ xã hội) và đầu tư đổ vào ngành công nghiệp trong nửa sau của thế kỷ trước. Sự thống trị của giai cấp thống trị Đức đối với Liên minh Châu Âu và thương mại tự do với Trung Quốc và Hoa Kỳ đã hoàn thành một chu kỳ tăng trưởng, cho phép Đức thoát khỏi cuộc khủng hoảng năm 2008 mà dường như không hề hấn gì.Tình hình tương tự cũng xảy ra với toàn bộ EU, nơi Nga là nhà cung cấp dầu mỏ lớn nhất (24,8%), khí đốt đường ống (48%) và than đá (47,9%). Các lệnh trừng phạt của châu Âu áp đặt lên Nga sau khi chiến tranh Ukraine bắt đầu đã dẫn đến giá năng lượng tăng cao hơn nhiều, gây ra hiệu ứng lan tỏa lên lạm phát và làm mất khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu châu Âu. Cuối cùng, châu Âu đã phải nhập khẩu khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) đắt đỏ hơn nhiều từ Hoa Kỳ và các sản phẩm dầu mỏ của Nga đắt đỏ hơn nhiều thông qua Ấn Độ.Trên thực tế, phần lớn khí đốt của Đức vẫn đến từ Nga, chỉ khác là giờ đây họ nhập khẩu khí hóa lỏng (LNG) với giá cao hơn nhiều. Giới cầm quyền Đức, Pháp và Ý đã tự bắn vào chân mình và giờ đây họ đang phải trả giá đắt. Ngay dưới thời tổng thống Biden, Hoa Kỳ đã trả đũa các đồng minh châu Âu bằng cách phát động một cuộc chiến thương mại chống lại họ thông qua một loạt các biện pháp bảo hộ và trợ cấp công nghiệp.Cộng đồng Kinh tế Châu Âu, và sau này là Liên minh Châu Âu, đại diện cho nỗ lực của các cường quốc đế quốc suy yếu trên lục địa nhằm liên kết lại với nhau sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, với hy vọng có tiếng nói lớn hơn trong chính trị thế giới và nền kinh tế. Trên thực tế, tư bản Đức đã thống trị các nền kinh tế yếu hơn khác. Trong khi tăng trưởng kinh tế diễn ra, một mức độ hội nhập kinh tế nhất định đã đạt được và thậm chí là một đồng tiền chung.Tuy nhiên, các giai cấp thống trị quốc gia khác nhau cấu thành nên nó vẫn tồn tại, mỗi giai cấp đều có lợi ích riêng. Bất chấp tất cả những lời bàn tán, không có chính sách kinh tế chung, không có chính sách đối ngoại thống nhất và không có quân đội thống nhất nào để thực thi điều ấy. Trong khi tư bản Đức dựa trên xuất khẩu công nghiệp cạnh tranh và lợi ích của họ nằm ở phương Đông, thì Pháp lại nhận được một khoản trợ cấp nông nghiệp lớn từ EU, và lợi ích đế quốc của họ lại nằm ở các thuộc địa cũ của Pháp, chủ yếu là ở Châu Phi.Cuộc khủng hoảng nợ công sau cuộc suy thoái năm 2008 đã đẩy EU đến giới hạn. Tình hình hiện nay thậm chí còn tồi tệ hơn. Báo cáo gần đây của cựu Chủ tịch Ngân hàng Trung ương Châu Âu, Mario Draghi, đã mô tả cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản châu Âu bằng những thuật ngữ đáng báo động, nhưng ông không sai. Về bản chất, lý do EU không thể cạnh tranh với các đối thủ đế quốc trên thế giới là do EU không phải là một thực thể kinh tế-chính trị duy nhất, mà là một tập hợp của nhiều nền kinh tế vừa và nhỏ, mỗi nền kinh tế đều có giai cấp thống trị riêng, ngành công nghiệp quốc gia riêng, bộ quy định riêng, v.v. Nền kinh tế châu Âu đang trì trệ và bị các đối thủ vượt mặt về tăng trưởng năng suất.Các lực lượng sản xuất đã phát triển vượt bậc hơn nhà nước dân tộc, và vấn đề này đặc biệt nghiêm trọng ở các nền kinh tế nhỏ nhưng phát triển cao của châu Âu.Sự suy tàn kéo dài của các cường quốc đế quốc châu Âu bị che đậy bởi thực tế là Hoa Kỳ đã bảo trợ quốc phòng cho EU và hỗ trợ EU về mặt chính trị. Trong gần 80 năm, chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ đã chống đỡ châu Âu, dưới sự thống trị của mình, như một bức tường thành chống lại Liên Xô. Đây là một thỏa thuận rất hữu ích cho chủ nghĩa tư bản châu Âu vì nó có thể giúp đẩy bớt một phần đáng kể chi phí quốc phòng quân sự cho người anh em hùng mạnh bên kia Đại Tây Dương.Điều đó giờ đã kết thúc. Chủ nghĩa đế quốc Mỹ dưới thời Trump đã quyết định kiểm soát sự suy yếu tương đối của mình bằng cách cố gắng đạt được một thỏa thuận với Nga để tập trung tốt hơn vào đối thủ chính trên trường quốc tế: Trung Quốc. Trung tâm chính trị và kinh tế thế giới không còn là Đại Tây Dương nữa mà là Thái Bình Dương. Sự thay đổi đó đã diễn ra kể từ khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, nhưng giờ đây mới đạt đến mức độ rõ rệt.Đây là một cú sốc lớn đối với quan hệ quốc tế mà không ai có thể bỏ qua. Nếu Mỹ muốn đạt được sự đồng thuận với Nga, điều đó sẽ khiến chủ nghĩa đế quốc châu Âu rơi vào thế yếu. Mỹ không còn là bạn và đồng minh của họ nữa. Một số người thậm chí còn đi xa đến mức nói rằng Washington giờ đây coi châu Âu là đối thủ hoặc kẻ thù.Ít nhất, Trump đã nói rõ rằng Mỹ không còn sẵn sàng trợ cấp cho quốc phòng của châu Âu nữa. Việc Mỹ rút khỏi "chiếc ô bảo hộ", như một số người đã mô tả, đã phơi bày rõ ràng tất cả những điểm yếu tích tụ của chủ nghĩa đế quốc châu Âu, vốn đã được bồi đắp qua nhiều thập kỷ suy tàn.Cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản châu Âu có những tác động chính trị và xã hội quan trọng. Sự trỗi dậy của các lực lượng dân túy cánh hữu, hoài nghi châu Âu và chống chính quyền trên khắp lục địa là hệ quả trực tiếp của nó. Giai cấp công nhân châu Âu, với lực lượng phần lớn còn nguyên vẹn và chưa bị đánh bại, sẽ không chấp nhận một đợt cắt giảm chi tiêu khắc khổ và sa thải hàng loạt mới mà không đấu tranh. Bối cảnh đã sẵn sàng cho một cuộc bùng nổ của đấu tranh giai cấp.Chiến tranh ở Trung ĐôngCuộc xung đột hiện tại ở Trung Đông chỉ có thể hiểu được nếu đặt trong bối cảnh tình hình kinh tế-chính trị thế giới. Chủ nghĩa đế quốc Mỹ đã suy yếu ở Trung Đông, trong khi Nga, Trung Quốc và cả Iran đều trở nên mạnh mẽ hơn. Israel cảm thấy bị đe dọa. Vụ tấn công ngày 7 tháng 10 là một đòn giáng mạnh vào giai cấp thống trị Israel. Nó đã phá hủy huyền thoại bất khả chiến bại và đặt câu hỏi về khả năng bảo vệ công dân Do Thái của nhà nước Do Thái, câu hỏi then chốt mà giai cấp thống trị Israel đã sử dụng để tập hợp dân chúng ủng hộ mình.Nó cũng phơi bày rõ ràng sự sụp đổ của Hiệp định Oslo, được ký kết sau sự sụp đổ của chủ nghĩa Stalin. Toàn bộ sự việc là một trò lừa bịp trắng trợn từ đầu đến cuối. Giai cấp thống trị Do Thái chưa bao giờ thực sự nghĩ đến việc trao cho người Palestine một quê hương khả thi. Họ coi Chính quyền Quốc gia Palestine (Palestinian National Authority -PA) chỉ đơn giản là một cách để kiểm soát người Palestine dễ hơn từ bên ngoài. Tổ chức Fatah và Chính quyền Quốc gia Palestine bị mất uy tín này – vốn bị coi là những con rối của Israel – đã dẫn đến sự trỗi dậy, với sự chấp thuận của Israel, của Hamas, lực lượng được nhiều người coi là lực lượng duy nhất theo đuổi cuộc đấu tranh cho các quyền dân tộc của người Palestine.Tuy nhiên, trên thực tế, các phương pháp phản động của Hamas đã dẫn người Palestine vào ngõ cụt và khó có thể tìm thấy lối ra.Hiệp định Abraham, được ký kết vào năm 2020 dưới áp lực của chính quyền Trump đầu tiên, nhằm mục đích thiết lập vị thế của Israel trong khu vực như một chủ thể hợp pháp và bình thường hóa quan hệ thương mại giữa nước này và các nước Ả Rập. Điều này đồng nghĩa với việc chôn vùi khát vọng dân tộc của người Palestine, điều mà các chế độ Ả Rập phản động rất sẵn lòng làm. Vụ tấn công ngày 7 tháng 10 là một phản ứng tuyệt vọng cho điều đó.Vụ tấn công ban đầu được người Palestine hoan nghênh, nhưng nó đã gây ra những hậu quả vô cùng khủng khiếp. Vụ việc này đã trao cho Netanyahu, người ngay trước đó đã phải đối mặt với làn sóng biểu tình quần chúng kéo dài, một cái cớ hoàn hảo để phát động một chiến dịch diệt chủng chống lại Gaza. Netanyahu, Ben Gvir, Smotrich và đồng bọn đã nhìn thấy trong vụ tấn công ngày 7 tháng 10 một cơ hội vàng. Dưới danh nghĩa bảo vệ 'an ninh' và 'sự an toàn' của Israel, họ đã nhắm đến việc thanh trừng sắc tộc càng nhiều người Palestine càng tốt khỏi đất nước của họ. Họ cũng đã tìm cách khẳng định lại vai trò đế quốc của mình trong khu vực thông qua việc mở rộng chiến tranh trên nhiều mặt trận.Một năm sau, người Israel đã biến Gaza thành một đống đổ nát, nhưng chúng đã không đạt được mục tiêu đã nêu: thả con tin và tiêu diệt Hamas. Hai mục tiêu chiến tranh này hoàn toàn loại trừ nhau. Mục tiêu thứ nhất đòi hỏi một giải pháp thương lượng với Hamas, trong khi mục tiêu sau ngăn cản các cuộc đàm phán như vậy diễn ra. Đã có sự phẫn nộ lan rộng rằng chính phủ Israel chỉ quan tâm đến việc tiêu diệt kẻ thù của mình. Điều này dẫn đến các cuộc biểu tình rầm rộ của hàng trăm nghìn người Israel và thậm chí là một cuộc tổng đình công ngắn ngủi vào tháng 9 năm 2024.Bản chất của những cuộc biểu tình này không phải là ủng hộ sự nghiệp của người Palestine, cũng không phải là phản đối chiến tranh. Tuy nhiên, việc có một mức độ phản đối quần chúng lớn như vậy đối với thủ tướng ngay giữa cuộc chiến là một dấu hiệu cho thấy sự chia rẽ sâu sắc trong xã hội Israel.Những sự kiện xả ra đã kéo sụp hết tín nhiệm của Netanyahu, thúc đẩy ông ta leo thang tình hình bằng cuộc xâm lược Lebanon và một cuộc tấn công vào Hezbollah, kèm theo những hành động khiêu khích liên tục chống lại Iran. Để tự cứu mình về mặt chính trị, ông ta đã nhiều lần thể hiện rằng mình sẽ sẵn sàng phát động một cuộc chiến tranh khu vực, điều này sẽ buộc Hoa Kỳ phải can thiệp trực tiếp về ông ta.Bất chấp nguy cơ vụ thảm sát ở Gaza có thể dẫn đến sự bất ổn mang tính cách mạng của các chế độ Ả Rập phản động (ở Ả Rập Xê Út, Ai Cập và trên hết là ở Jordan), Biden đã nói rõ rằng sự ủng hộ của ông đối với Israel là 'vững chắc như thép' (iron-clad), và Netanyahu đã liên lợi dụng 'tấm séc trắng' đó, theo đuổi con đường leo thang hướng tới một cuộc chiến tranh khu vực. Bên cạnh vụ thảm sát diệt chủng ở Gaza, ông ta còn phát động một cuộc xâm lược trên bộ vào Lebanon, các cuộc không kích vào Iran, Yemen và Syria, rồi sau đó là một cuộc xâm lược trên bộ vào Syria.Mặc dù động cơ chính của Netanyahu khi mở rộng xung đột sang Iran là sự cứu rỗi chính trị của ông do các vấn đề trong nước, nhưng có vẻ như rõ ràng là cuộc chiến tranh giới hạn 12 ngày giữa Israel và Iran vào tháng 6 năm ngoái đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi hơn từ tầng lớp thống trị Israel. Sự củng cố chế độ Iran trong khu vực trong 20 năm trước đã bị giai cấp tư sản Do Thái coi là mối đe dọa đối với Israel. Nhưng Iran đã bị bỏ lại trong một vị thế mong manh hơn trong khu vực với việc loại bỏ chế độ Al-Assad của Syria và với việc Hezbollah và Hamas bị suy yếu nghiêm trọng. Do đó, một cuộc chiến tranh nhỏ có thể phá hủy chương trình hạt nhân của Iran, hoặc thậm chí lật đổ chế độ, là một lý do đáng được ủng hộ. Cuối cùng, Israel đã không đạt được điều này, và việc tái khởi động một cuộc đối đầu quân sự mới giữa hai bên chỉ là vấn đề thời gian.Sự sụp đổ đột ngột và bất ngờ của chế độ Assad ở Syria đã một lần nữa làm thay đổi cán cân lực lượng khu vực. Thổ Nhĩ Kỳ là một cường quốc tư bản nhỏ xét về kinh tế thế giới, nhưng lại là một quốc gia có tham vọng lớn trong khu vực. Erdogan đã rất khéo léo lợi dụng xung đột giữa chủ nghĩa đế quốc Mỹ và Nga để đạt được lợi thế cho mình.Nhận thấy Iran và Nga, những nước mà Erdogan đã ký thỏa thuận ở Syria năm 2016, đang có những mối quan hệ khác (Nga ở Ukraine và Iran ở Lebanon), Erdogan quyết định ủng hộ cuộc tấn công của phiến quân thánh chiến HTS từ Idlib. Trước sự ngạc nhiên của mọi người, điều đó đã dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ. Mức độ mục ruỗng bởi các lệnh trừng phạt kinh tế, tham nhũng và chủ nghĩa bè phái lớn hơn nhiều so với những gì mọi người nhận ra. Sự chia cắt hiện tại của Syria là sự tiếp nối của hơn 100 năm can thiệp của chủ nghĩa đế quốc, bắt nguồn từ thỏa thuận Sykes-Picot.Cuối cùng, sẽ không thể có hòa bình ở Trung Đông chừng nào vấn đề dân tộc Palestine chưa được giải quyết. Nhưng điều này không thể đạt được dưới chủ nghĩa tư bản. Lợi ích của giai cấp thống trị theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái ở Israel (được hậu thuẫn bởi thế lực đế quốc hùng mạnh nhất thế giới) không cho phép hình thành một quê hương thực sự cho người Palestine, và càng không cho phép hàng triệu người tị nạn được hồi hương.Xét về mặt quân sự thuần túy, người Palestine không thể đánh bại Israel, một thế lực đế quốc tư bản hiện đại với công nghệ quân sự tinh vi nhất và một cơ quan tình báo vô song. Israel cũng được đế quốc Mỹ hậu thuẫn hoàn toàn.Vậy người Palestine có thể dựa vào lực lượng nào khác? Không thể đặt niềm tin vào các chế độ Ả Rập phản động, những chế độ chỉ nói suông ủng hộ sự nghiệp của Palestine nhưng lại phản bội nó và hợp tác với Israel cùng chủ nghĩa đế quốc trong mọi phong trào từng xảy ra.Những đồng đội thực sự duy nhất của người Palestine chỉ có thể tìm thấy trên đường phố Ả Rập – quần chúng công nhân, nông dân, tiểu thương và người nghèo thành thị lẫn nông thôn bị áp bức. Nhưng nhiệm vụ trước mắt của họ là phải thanh toán nợ nần với chính những kẻ cai trị phản động của mình. Điều này đặt ra câu hỏi về việc xóa bỏ chủ nghĩa tư bản thông qua việc tước đoạt tài sản của địa chủ, chủ ngân hàng và các nhà tư bản. Nếu không có điều này, cuộc cách mạng ở Bắc Phi và Trung Đông sẽ không bao giờ thành công.Một giai cấp công nhân hùng mạnh hiện diện trong khu vực, đặc biệt là ở Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ, cũng như ở Ả Rập Xê Út, các quốc gia vùng Vịnh và Jordan. Một cuộc nổi dậy thành công ở bất kỳ quốc gia nào trong số này, đưa giai cấp công nhân lên nắm quyền, sẽ làm thay đổi cán cân lực lượng. Do đó, nó sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn cho việc giải phóng người Palestine, và sẽ mở đường cho một cuộc chiến tranh cách mạng chống lại Israel, điều chắc chắn sẽ phát sinh từ tình thế đó nếu xem xét toàn diện.Nhà nước Israel và giai cấp thống trị theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái của nó chỉ có thể bị đánh bại bằng cách chia rẽ dân tộc theo ranh giới giai cấp. Hiện tại, viễn cảnh về một sự chia rẽ giai cấp ở Israel dường như còn xa vời. Tuy nhiên, chiến tranh và xung đột liên miên cuối cùng có thể dẫn đến một bộ phận quần chúng Israel đi đến kết luận rằng con đường duy nhất dẫn đến hòa bình là thông qua một giải pháp công bằng cho vấn đề dân tộc Palestine.Nếu không có đường lối về sự chuyển đổi xã hội theo hướng xã hội chủ nghĩa cách mạng, những cuộc chiến tranh triền miên do các chính phủ phản động tiến hành, với sự giật dây của các thế lực đế quốc, sẽ chẳng giải quyết được gì. Dưới sự cai trị của chủ nghĩa đế quốc, các lệnh ngừng bắn tạm thời và các hiệp định hòa bình sẽ chỉ dọn đường cho các cuộc chiến tranh mới. Nhưng sự bất ổn chung, vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của chiến tranh, sẽ tạo điều kiện cho một phong trào cách mạng của quần chúng trong giai đoạn tiếp theo.Cách mạng Palestine sẽ thắng lợi như một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và là một phần của cuộc tổng nổi dậy của quần chúng công nhân và nông dân nghèo chống lại các chế độ phản động trong khu vực, hoặc sẽ không bao giờ thắng lợi. Các quốc gia Trung Đông và Bắc Phi sở hữu nguồn tài nguyên khổng lồ chưa được khai thác, có thể đảm bảo một xã hội thịnh vượng và phồn vinh. Thay vào đó, toàn bộ lịch sử của Trung Đông và Bắc Phi sau cái gọi là độc lập khỏi sự cai trị trực tiếp của chủ nghĩa đế quốc chỉ là một cơn ác mộng đối với đại đa số người dân. Giai cấp tư sản đã chứng tỏ mình không có khả năng giải quyết bất kỳ vấn đề cốt yếu nào.Những người theo chủ nghĩa Stalin đã đóng một vai trò tai hại nhất, dựa trên học thuyết sai lầm về 'hai giai đoạn', một học thuyết tách biệt giả tạo giữa cách mạng vô sản và cái gọi là cách mạng dân chủ tư sản. Học thuyết phản động này đã dẫn đến hết thất bại thảm hại này đến thất bại thảm hại khác, tạo điều kiện cho sự trỗi dậy của chế độ độc tài phản động và áp bức, cùng với sự điên rồ của chủ nghĩa cực đoan tôn giáo ở hết nước này đến nước khác. Chỉ có một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi mới có thể chấm dứt cơn ác mộng này.Chỉ có một liên bang xã hội chủ nghĩa mới có thể giải quyết vấn đề dân tộc một lần và mãi mãi. Tất cả các dân tộc, người Palestine và người Do Thái Israel, cũng như người Kurd, người Armenia và tất cả những dân tộc khác, sẽ có quyền sống trong hòa bình trong một liên bang xã hội chủ nghĩa như vậy. Tiềm năng kinh tế của khu vực sẽ được khai thác tối đa thông qua một kế hoạch sản xuất xã hội chủ nghĩa chung. Thất nghiệp và nghèo đói sẽ là chuyện của quá khứ. Chỉ trên nền tảng đó, những thù hận dân tộc và tôn giáo cũ có thể được khắc phục. Chúng sẽ chỉ còn là ký ức về một cơn ác mộng.Đây là hy vọng thực sự duy nhất cho người dân Trung ĐôngChạy đua vũ trang và chủ nghĩa quân phiệtTrong lịch sử, bất kỳ sự thay đổi đáng kể nào về sức mạnh tương đối của các cường quốc đế quốc khác nhau đều có xu hướng được giải quyết thông qua chiến tranh, chủ yếu là hai cuộc chiến tranh thế giới của thế kỷ 20. Ngày nay, sự tồn tại của vũ khí hạt nhân đã loại trừ một cuộc chiến tranh thế giới mở trong tương lai.Các nhà tư bản tham chiến để giành thị trường, lĩnh vực đầu tư và phạm vi ảnh hưởng. Một cuộc chiến tranh thế giới ngày nay sẽ dẫn đến sự hủy diệt toàn diện về cơ sở hạ tầng và cuộc sống, mà không một thế lực nào được hưởng lợi. Một cuộc chiến tranh thế giới sẽ cần một nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa Bonaparte điên cuồng cai trị một cường quốc hạt nhân lớn. Điều đó chỉ có thể xảy ra khi có yếu tố quyết định là chỗ giai cấp công nhân không giành được thắng lợi. Đó không phải là viễn cảnh trước mắt chúng ta.Tuy nhiên, xung đột giữa các cường quốc đế quốc, phản ánh cuộc đấu tranh nhằm khẳng định sự phân chia lại hành tinh, đang chi phối tình hình thế giới. Điều này được thể hiện qua một số cuộc chiến tranh khu vực, gây ra sự tàn phá lớn và cướp đi sinh mạng của hàng chục nghìn người, cũng như trong những căng thẳng thương mại và ngoại giao đang ngày càng gia tăng. Năm ngoái chứng kiến số lượng chiến tranh cao nhất kể từ khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc.Điều này đã dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang mới, sự gia tăng chủ nghĩa quân phiệt ở các nước phương Tây, và gia tăng áp lực tái thiết, tái trang bị và hiện đại hóa lực lượng vũ trang trên toàn thế giới. Hoa Kỳ dự kiến sẽ chi khoảng 1,7 nghìn tỷ đô la trong 30 năm để cải tiến kho vũ khí hạt nhân của mình. Hiện tại, họ đã quyết định triển khai tên lửa hành trình trên lãnh thổ Đức lần đầu tiên kể từ Chiến tranh Lạnh.Tất cả các nước NATO đều chịu áp lực mạnh mẽ trong việc tăng chi tiêu quốc phòng. Trung Quốc đã công bố mức tăng 7,2% chi tiêu quốc phòng. Nhờ chiến tranh, chi tiêu quân sự của Nga đã tăng 40% vào năm 2024, đạt 32% tổng chi tiêu liên bang và 6,68% GDP. Chi tiêu quân sự toàn cầu năm 2023 đạt 2,44 nghìn tỷ đô la, tăng 6,8% so với năm 2022. Đây là mức tăng lớn nhất kể từ năm 2009 và là mức cao nhất từng được ghi nhận.Đây là những khoản tiền khổng lồ, chưa kể đến sức lao động và sự phát triển công nghệ bị lãng phí, vốn có thể được sử dụng cho các mục đích xã hội thiết yếu. Đây là điểm mà những người cộng sản phải nhấn mạnh trong tuyên truyền và vận động của chúng ta.Sẽ là quá đơn giản nếu nói rằng các nhà tư bản đang bắt đầu một cuộc chạy đua vũ trang mới để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trên thực tế, chi tiêu vũ khí vốn dĩ mang tính lạm phát và bất kỳ tác động nào đến nền kinh tế đều chỉ là ngắn hạn và được bù đắp bằng việc cắt giảm trong các lĩnh vực khác. Về lâu dài, nó sẽ làm cạn kiệt nền kinh tế sản xuất bằng cách hút cạn giá trị thặng dư. Thay vào đó, chính xung đột giữa các cường quốc đế quốc nhằm phân chia lại thế giới đang thúc đẩy sự gia tăng chi tiêu quân sự. Chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn đế quốc chắc chắn sẽ dẫn đến xung đột giữa các cường quốc và cuối cùng là chiến tranh.Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa đế quốc đã trở thành trọng tâm của thời đại chúng ta. Chúng ta kiên quyết phản đối chiến tranh đế quốc và chủ nghĩa đế quốc, nhưng chúng ta không phải là những người theo chủ nghĩa hòa bình. Chúng ta phải nhấn mạnh rằng cách duy nhất để đảm bảo hòa bình là xóa bỏ hệ thống tư bản chủ nghĩa, vốn là mầm mống của chiến tranh.Cuộc chạy đua tái vũ trang của chủ nghĩa tư bản châu ÂuTrong trường hợp của châu Âu, động lực hướng tới chủ nghĩa quân phiệt và chi tiêu vũ khí là kết quả của sự củng cố chủ nghĩa đế quốc Nga khi giành chiến thắng trong cuộc chiến ở Ukraine, việc Mỹ rút quân việnt trợ, và nỗ lực của các cường quốc châu Âu nhằm chứng tỏ chúng vẫn đóng một vai trò trên trường quốc tế.Chi tiêu quân sự của Nga cho năm 2024 là khoảng 13,1 nghìn tỷ rúp (145,9 tỷ đô la), chiếm 6,68% GDP của quốc gia này. Con số này tăng hơn 40% so với năm trước. Khi điều chỉnh theo sức mua tương đương, con số này xấp xỉ 462 tỷ đô la.Trong khi đó, chi tiêu quân sự của châu Âu đã tăng đáng kể 50% tính theo giá trị danh nghĩa kể từ năm 2014, đạt tổng cộng 457 tỷ đô la vào năm 2024. Trong trường hợp này, việc điều chỉnh con số của Nga theo sức mua là hợp lý, vì chúng ta đang so sánh số lượng xe tăng, pháo binh hoặc đạn dược mà mỗi đô la có thể mua được, ở Nga và ở châu Âu. Nói cách khác, Nga đang chi tiêu nhiều hơn toàn bộ châu Âu về quân sự.Nga cũng đang sản xuất nhiều hơn toàn bộ NATO, bao gồm cả Mỹ, về đạn dược, tên lửa và xe tăng. Theo ước tính của tình báo NATO, Nga đang sản xuất 3 triệu quả đạn pháo mỗi năm. Toàn bộ NATO, bao gồm cả Mỹ, chỉ có khả năng sản xuất 1,2 triệu quả, chưa bằng một nửa con số của Nga.Hơn nữa, cuộc chiến ở Ukraine đã hoàn toàn thay đổi cách thức tiến hành chiến tranh. Như thường lệ, chiến tranh cho phép thử nghiệm các công nghệ và kỹ thuật mới trong điều kiện thực tế, được thúc đẩy và điều chỉnh nhanh chóng cho phù hợp với chiến trường. Các đội quân chiến đấu buộc phải nhanh chóng phát triển các phương tiện và chiến thuật để chống lại chúng. Chúng ta đã chứng kiến sự ra đời của một số lượng lớn máy bay không người lái (trên không, trên bộ và trên biển), các kỹ thuật giám sát điện tử và gây nhiễu, v.v.Quân đội duy nhất có kinh nghiệm thực tế về những phương pháp mới này là Ukraine và Nga. Phương Tây đang tụt hậu nghiêm trọng trong tất cả những lĩnh vực này. Chiến tranh Ukraine đã làm thay đổi đáng kể cán cân lực lượng quân sự theo hướng có lợi cho Nga.Điều đó không có nghĩa là Nga có lợi ích trong việc xâm lược châu Âu, hay thậm chí là một phần của châu Âu. Cái gọi là mối đe dọa đó đã được giai cấp thống trị thổi phồng quá mức nhằm biện minh cho việc tăng mạnh chi tiêu quân sự và nhằm giảm bớt sự phản đối của công chúng. Nga không hề có lợi ích trong việc xâm lược miền tây Ukraine - một hoạt động tốn kém và nặng nề hơn nhiều so với chiến dịch quân sự hiện tại của Nga - chứ đừng nói đến việc xâm lược các nước NATO.Theo quan điểm của chủ nghĩa tư bản châu Âu, mối đe dọa thực sự không phải là một cuộc xâm lược của Nga hay một cuộc xung đột quân sự công khai giữa quân đội Nga và châu Âu. Điều đó sẽ rất tốn kém cho cả hai bên. Hơn nữa, nó sẽ liên quan đến việc hai bên sở hữu vũ khí hạt nhân, một đề xuất rất nguy hiểm.Mối đe dọa thực sự đối với chủ nghĩa đế quốc châu Âu đang khủng hoảng là bị bỏ rơi hoặc bị đánh mất vị thế quốc tế bởi một cường quốc đế quốc lớn nhất thế giới, trong khi đồng thời lại là láng giềng của một đế quốc hùng mạnh khác, đang trỗi dậy mạnh mẽ hơn sau cuộc chiến hiện tại.Nga có rất nhiều ảnh hưởng (về quân sự và tài nguyên năng lượng) và đang có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính trường châu Âu. Các quốc gia như Hungary và Slovakia đã phá vỡ hàng ngũ với định hướng Đại Tây Dương của các cường quốc thống trị châu Âu. Ở những nước khác, một số lực lượng chính trị cũng đang di chuyển theo hướng tương tự ở một mức độ nào đó (Đức, Áo, Romania, Cộng hòa Séc, Ý).Điều mà chủ nghĩa đế quốc châu Âu đang bảo vệ không phải là mạng sống và nhà cửa của người dân châu Âu, mà là lợi nhuận của các công ty đa quốc gia và tham vọng đế quốc hung hăng của giai cấp thống trị tư bản. Nga là đối thủ của chủ nghĩa tư bản Đức ở Đông và Trung Âu. Nga là đối thủ của chủ nghĩa đế quốc Pháp ở châu Phi.Cuộc khủng hoảng kéo dài của chủ nghĩa tư bản châu Âu đồng nghĩa với việc một khi sự bảo vệ của Hoa Kỳ bị rút lại, nó sẽ không thể tự đứng vững. Nó đang bị đe dọa chia cắt giữa các lợi ích đối địch của Mỹ, Nga và Trung Quốc. Các xu hướng ly tâm đang ngày càng mạnh mẽ hơn, khi mỗi giai cấp tư bản bắt đầu khẳng định lợi ích quốc gia của riêng mình. Không loại trừ khả năng những xu hướng này cuối cùng sẽ dẫn đến sự tan rã của Liên minh Châu Âu.Kinh tế thế giới: Từ toàn cầu hóa đến chiến tranh thương mại và chủ nghĩa bảo hộViệc Trump áp dụng thuế quan trên diện rộng vào ngày 2 tháng 4 đã đánh dấu một bước ngoặt trong nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, quá trình toàn cầu hóa chậm lại và bước chuyển sang chủ nghĩa bảo hộ đã bắt đầu từ trước đó.Suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008 là một bước ngoặt trong cuộc khủng hoảng tư bản chủ nghĩa. Trong giai đoạn ngay trước cuộc khủng hoảng, nền kinh tế thế giới tăng trưởng khoảng 4% mỗi năm. Giữa cuộc khủng hoảng năm 2008 và cú sốc đại dịch năm 2020, nó chỉ tăng trưởng 3%. Trước khi Trump áp dụng thuế quan, tốc độ tăng trưởng đã ở mức khoảng 2%, mức tăng trưởng thấp nhất trong ba thập kỷ.Trên thực tế, nền kinh tế thế giới chưa bao giờ phục hồi sau cuộc suy thoái năm 2008. Vào thời điểm đó, một gói cứu trợ ngân hàng khổng lồ đã được đưa ra, một biện pháp tuyệt vọng để cứu vãn ngành tài chính. Các quốc gia ở châu Âu đã tích lũy nợ nần và thâm hụt ngân sách khổng lồ, buộc phải thực hiện các biện pháp thắt lưng buộc bụng. Giai cấp công nhân đang phải trả giá cho cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản.Giai cấp thống trị, trong cơn hoảng loạn, đã phản ứng bằng một chương trình nới lỏng định lượng (quantitative easing) quy mô lớn, bơm một lượng tiền khổng lồ vào nền kinh tế và hạ lãi suất xuống mức chưa từng có xuống 0 hoặc thậm chí âm. Tuy nhiên, điều đó đã không tạo ra sự phục hồi, vì các hộ gia đình cũng đang gánh trên vai khoản nợ khổng lồ. Không có lĩnh vực đầu tư sản xuất nào hiệu quả, vì vậy thanh khoản dư thừa đã thổi phồng bong bóng giá cổ phiếu, tiền điện tử, v.v.Các biện pháp thắt chặt kinh tế được chính phủ khắp nơi thực hiện đã dẫn đến các phong trào quần chúng trên khắp thế giới vào năm 2011: cuộc cách mạng ở Bắc Phi và Trung Đông, phong trào Chiếm lĩnh ở Mỹ, phong trào 'indignados' ở Tây Ban Nha, phong trào Quảng trường Syntagma ở Hy Lạp, v.v.Điều đó phản ánh sự bất mãn ngày càng tăng đối với hệ thống tư bản, vốn đang buộc giai cấp công nhân phải trả giá cho các biện pháp cứu trợ ngân hàng và điều này dẫn đến việc làm mất uy tín của tất cả các thể chế tư sản. Sự thay đổi trong nhận thức đó – như chúng ta đã thấy – đã được chuyển hóa thành hành động chính trị trong sự trỗi dậy của một loại hình cải cách cánh tả mới vào khoảng năm 2015: Podemos, Syriza, Corbyn, Mélenchon, Sanders và các “chính phủ tiến bộ” ở Mỹ Latinh.Quần chúng được thu hút bởi những phong trào này bởi họ phản đối rõ ràng và triệt để đối với chính sách thắt chặt kinh tế. Quá trình đó đã kết thúc khi những hạn chế của chủ nghĩa cải cách bị phơi bày: với sự phản bội của chính phủ Syriza ở Hy Lạp; sự ủng hộ của Sanders dành cho Clinton; sự sụp đổ của chủ nghĩa Corbyn; và sự tham gia của Podemos vào chính phủ liên minh ở Tây Ban Nha.Ở các quốc gia do chủ nghĩa đế quốc thống trị, chúng ta đã chứng kiến các cuộc nổi dậy và bạo loạn quần chúng (ở Puerto Rico, Haiti, Ecuador, Chile, Sudan, Colombia, v.v.). Các cuộc vận động quần chúng trong cuộc đấu tranh giành một nền cộng hòa ở Catalonia vào năm 2017 và 2019 cũng là một phần của xu hướng chung này.Tuy nhiên, việc thiếu sự lãnh đạo đồng nghĩa với việc không có cuộc vận động nào trong số đó dẫn đến sự lật đổ chủ nghĩa tư bản, điều mà lẽ ra đã có thể xảy ra.Đại dịch COVID-19 năm 2020 là một cú sốc bên ngoài đối với nền kinh tế vào thời điểm nó đã hướng đến một cuộc suy thoái mới (vẫn chưa hoàn toàn phục hồi sau cuộc khủng hoảng năm 2008). Điều này cuối cùng đã đẩy nền kinh tế thế giới đến bờ vực sụp đổ.Một lần nữa, trong cơn hoảng loạn, giai cấp thống trị đã phải dùng đến các biện pháp tuyệt vọng để ngăn chặn một cuộc bùng nổ xã hội. Ở các nước tư bản tiên tiến, người lao động được nhà nước trả lương chỉ để ở trong nhà, gây thiệt hại nặng nề cho tài chính công, vốn đã gánh nặng nợ nần từ cuộc khủng hoảng trước đó.Trong 15 năm qua, những nỗ lực liên tục nhằm khởi động lại nền kinh tế thế giới bằng cách bơm một lượng lớn thanh khoản vào hệ thống thông qua nới lỏng định lượng, lãi suất thấp kỷ lục (2009-2021) và các biện pháp hoảng loạn tương tự khác đã thất bại thảm hại trong việc đạt được bất kỳ tăng trưởng kinh tế đáng kể nào. Giới tư bản, mặc dù được đổ rất nhiều tiền, vẫn không chịu đầu tư vào nền sản xuất.Yếu tố then chốt là giới tư bản cần một thị trường nơi họ có thể bán sản phẩm của mình để thu lợi nhuận. Nợ nần chồng chất đồng nghĩa với việc các hộ gia đình và doanh nghiệp không thể thúc đẩy tiêu dùng.Tổng nợ hộ gia đình, nhà nước và doanh nghiệp trên toàn thế giới đã đạt khoảng 313 nghìn tỷ đô la, tương đương 330% GDP toàn cầu, tăng từ mức khoảng 210 nghìn tỷ đô la một thập kỷ trước.Nợ công phản ánh thực tế rằng các giới hạn của hệ thống đã bị kéo căng đến mức giới hạn và giờ đây hoạt động như một rào cản khổng lồ đối với bất kỳ sự phát triển nào. Sự kết hợp giữa mức nợ nhà nước cao và lãi suất cao hơn đã đẩy một loạt các quốc gia bị thống trị đến bờ vực thẳm. Sẽ còn nhiều quốc gia khác rơi vào tình trạng tương tự.Đại dịch cũng tác động đến nhận thức, cho thấy hệ thống tư bản tư bản lợi nhuận tư nhân bất lực trong việc đối phó với tình trạng khẩn cấp về y tế, và lợi nhuận đã được đặt lên trên mạng sống con người đối với các tập đoàn dược phẩm khổng lồ.Trong những năm 1990 và 2000, nền kinh tế thế giới đã có sự tăng trưởng nhất định, mặc dù tốc độ tăng trưởng thấp hơn đáng kể so với thời kỳ bùng nổ sau chiến tranh 1948-1973, khi lực lượng sản xuất phát triển đáng kể. Hơn nữa, tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn trước năm 2008 dựa trên sự mở rộng tín dụng và "toàn cầu hóa". Điều này cho phép hệ thống vượt ra ngoài giới hạn của nó, một phần và trong một khoảng thời gian. Toàn cầu hóa đồng nghĩa với việc mở rộng thương mại thế giới, hạ thấp hàng rào thuế quan, hạ giá hàng tiêu dùng và mở ra các thị trường và lĩnh vực đầu tư mới ở các quốc gia bị chủ nghĩa đế quốc thống trị.Giờ đây, tất cả những yếu tố đó đã trở nên trái ngược. Sự mở rộng tín dụng và thanh khoản đã biến thành một núi nợ.Toàn cầu hóa (sự mở rộng thương mại thế giới) là một trong những động lực chính của tăng trưởng kinh tế trong cả một giai đoạn sau sự sụp đổ của chủ nghĩa Stalin ở Nga, sự phục hồi của chủ nghĩa tư bản ở Trung Quốc và sự hội nhập của nước này vào nền kinh tế thế giới. Thay vào đó, những gì chúng ta có bây giờ là hàng rào thuế quan và chiến tranh thương mại giữa tất cả các khối kinh tế lớn (Trung Quốc, EU và Hoa Kỳ), mỗi bên đều cố gắng cứu nền kinh tế của mình bằng cách gây tổn hại cho các bên khác.Năm 1991, thương mại thế giới chiếm 35% GDP toàn cầu, một con số gần như không đổi kể từ năm 1974. Sau đó, thương mại thế giới bắt đầu một giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ, đạt đỉnh 61% vào năm 2008. Kể từ đó, thương mại thế giới vẫn trì trệ.Trước đợt áp thuế gần đây, IMF dự báo thương mại thế giới sẽ chỉ tăng trưởng 3,2% mỗi năm trong trung hạn, thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm 4,9% của giai đoạn 2000-2019. Sự mở rộng của thương mại thế giới không còn là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như trước đó. Giờ đây, toàn bộ quá trình đã đi ngược lại.Xu hướng bảo hộ mậu dịch, một triệu chứng của cuộc khủng hoảng chủ nghĩa tư bản, đã tích tụ trong một thời gian. Năm 2023, các chính phủ trên toàn thế giới đã áp dụng 2.500 biện pháp bảo hộ mậu dịch (ưu đãi thuế, trợ cấp có mục tiêu và hạn chế thương mại), gấp ba lần so với năm năm trước đó.Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên của Trump, Hoa Kỳ đã áp dụng lập trường bảo hộ mạnh mẽ, không chỉ đối với Trung Quốc mà còn đối với EU, một chính sách vẫn tiếp tục dưới thời Biden. Biden đã ban hành một loạt luật (CHIPS, còn gọi là Đạo luật Giảm Lạm phát, v.v.) và các biện pháp nhằm mang lại lợi ích cho sản xuất của Hoa Kỳ bằng cách gây tổn hại đến hàng nhập khẩu từ phần còn lại của thế giới. Kể từ khi Donald Trump tái đắc cử, tất cả các xu hướng bảo hộ đã được thúc đẩy mạnh mẽ và giờ đây đã dẫn đến một cuộc chiến thương mại công khai.Sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ và việc áp dụng thuế quan sẽ là một cú sốc nữa đối với nền kinh tế toàn cầu, tiếp nối đại dịch và chiến tranh Ukraine. Điều này sẽ làm gia tăng áp lực lạm phát dai dẳng trong nền kinh tế - bên cạnh thâm hụt tài chính, chi tiêu quân sự, thay đổi nhân khẩu học và biến đổi khí hậu - đồng thời làm giảm lượng cầu hàng hóa dịch vụ.Tuy nhiên, tình hình kinh tế rất bấp bênh. Khả năng xảy ra một cuộc suy thoái mới trong giai đoạn tới là có, và thậm chí không thể loại trừ khả năng xảy ra suy thoái.Chính sách thuế quan của TrumpViệc Trump chuyển hướng mạnh mẽ sang chủ nghĩa bảo hộ và tuyên chiến thương mại công khai với Trung Quốc là một triệu chứng của cuộc khủng hoảng chủ nghĩa tư bản Mỹ. Điều này đồng nghĩa với việc thừa nhận rằng các công ty sản xuất của Mỹ không thể cạnh tranh trên thị trường toàn cầu nếu không có sự can thiệp của nhà nước. Mặt khác, chủ nghĩa bảo hộ là cách các nước tư bản đối địch buộc các nước khác phải trả giá cho cuộc khủng hoảng của mình. "Nước Mỹ trên hết" đồng nghĩa với việc "mọi nước khác đều bị xếp sau".Với các biện pháp bảo hộ rộng rãi, Trump đang theo đuổi một số mục tiêu. 1) Trừng phạt việc nhập khẩu hàng hóa sản xuất và do đó mang việc làm trong ngành sản xuất trở lại Mỹ. 2) Ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc như một đối thủ kinh tế. 3) Sử dụng tiền thu được từ thuế quan để giảm thâm hụt ngân sách Mỹ, nhờ đó ông có thể duy trì việc cắt giảm thuế. 4) Sử dụng thuế quan như một con bài mặc cả trong các cuộc đàm phán với các nước khác nhằm đạt được những nhượng bộ về chính trị và kinh tế.Đúng là một số công ty đã công bố đầu tư vào Mỹ như một cách để né tránh thuế quan và duy trì quyền tiếp cận thị trường Mỹ (thị trường tiêu dùng lớn nhất thế giới). Tuy nhiên, việc xây dựng các nhà máy mới là một quá trình đòi hỏi thời gian và lợi ích của việc gia tăng số lượng việc làm mới có thể sẽ phải đánh đổi bằng các tác động tiêu cực trong ngắn hạn của thuế quan đối với chuỗi cung ứng.Ngày nay, sau 30 năm toàn cầu hóa, chuỗi cung ứng đã trở nên cực kỳ dài, trong đó các quốc gia khác nhau chuyên môn hóa trong các khâu khác nhau của quy trình sản xuất. Ngành công nghiệp ô tô ở Mỹ, Mexico và Canada có tính liên kết cực kỳ cao, với các linh kiện phải đi qua biên giới nhiều lần trước khi được lắp ráp theo từng giai đoạn ở các quốc gia khác nhau. Bất kỳ động thái nào nhằm rút ngắn chuỗi cung ứng sẽ ngay lập tức gây ra tác động gián đoạn đến nền kinh tế, khiến giá sản phẩm trở nên đắt đỏ hơn hoặc thậm chí khiến lượng sản phẩm trở nên khan hiếm trong một số trường hợp. Sự bất ổn do việc Trump sử dụng thuế quan làm công cụ đàm phán cũng gây ảnh hưởng tiêu cực đến các quyết định đầu tư.Nền kinh tế Mỹ và Trung Quốc có mối liên hệ mật thiết và phụ thuộc lẫn nhau. Đối với Hoa Kỳ, hiện tại không có lựa chọn thay thế khả thi nào cho hàng sản xuất của Trung Quốc – hàng hóa Trung Quốc vừa có giá cả phải chăng vừa chất lượng cao. Những nỗ lực loại bỏ hàng hóa Trung Quốc khỏi thị trường Hoa Kỳ, như Trump theo đuổi, có thể sẽ gây ra thiệt hại kinh tế nghiêm trọng rất lâu trước khi bất kỳ sự phục hồi nào của ngành sản xuất Mỹ có thể bắt đầu, nếu điều đó thực sự xảy ra.Bất kỳ nỗ lực nào nhằm phá bỏ mối quan hệ này đều sẽ gây ra những hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế thế giới nói chung. Hãy nhớ rằng sau năm 1929, đã xuất hiện xu hướng chuyển dịch sang chủ nghĩa bảo hộ, đẩy thế giới từ suy thoái kinh tế sang khủng hoảng. Khối lượng thương mại toàn cầu đã giảm 25% từ năm 1929 đến năm 1933, và phần lớn trong số đó là kết quả trực tiếp của việc gia tăng các rào cản thương mại.Trong suốt một khoảng thời gian, toàn cầu hóa đã cho phép hệ thống tư bản tạm thời vượt ra ngoài một phần giới hạn của nhà nước dân tộc. Chủ nghĩa bảo hộ đại diện cho một nỗ lực nhằm hạn chế lực lượng sản xuất trở lại giới hạn chật hẹp của nhà nước dân tộc, nhằm tái khẳng định sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ đối với các nước khác. Như Trotsky đã cảnh báo vào những năm 1930:“Ở cả hai bờ Đại Tây Dương, không ít năng lượng đầu óc đã bị lãng phí vào những nỗ lực giải quyết vấn đề hoang đường là làm thế nào để dồn cá sấu trở lại quả trứng gà. Chủ nghĩa dân tộc kinh tế siêu hiện đại chắc chắn sẽ bị diệt vong bởi chính bản chất phản động của nó; nó kìm hãm và làm suy yếu sức sản xuất của con người.” (Chủ nghĩa dân tộc và Đời sống kinh tế- Nationalism and Economic Life, 1934)Đúng như dự đoán, các nhà lãnh đạo công đoàn ở khắp mọi nơi đang phản ứng với chủ nghĩa bảo hộ bằng cách đứng về phía giai cấp thống trị của chính họ 'bảo vệ việc làm' ở chính đất nước họ. Những người cộng sản phải đứng trên quan điểm giai cấp một cách độc lập bằng cách ủng hộ chủ nghĩa quốc tế. Kẻ thù của giai cấp công nhân là giai cấp thống trị, đặc biệt giai cấp thống trị trong nước, chứ không phải công nhân các nước khác.Khi các nhà máy phải đóng cửa do khủng hoảng, chúng ta nâng cao khẩu hiệu chiếm dụng các nhà máy đó. Thay vì tiếp tục mở các gói cứu trợ cho công ty tư nhân, chúng ta yêu cầu kê biên và quốc hữu hóa các công ty đó và đặt chúng dưới sự kiểm soát của công nhân. Nếu các nhà máy không thể hoạt động vì lợi nhuận dưới chủ nghĩa tư bản, chúng nên bị tịch thu, tái cơ cấu và tái sử dụng để thực hiện các mục đích xã hội hữu ích, theo một kế hoạch sản xuất dân chủ. Cả thương mại tự do lẫn chủ nghĩa bảo hộ đều không vì lợi ích của giai cấp công nhân. Đây chỉ là hai chính sách kinh tế khác nhau mà giai cấp thống trị cố gắng áp dụng để giải quyết các cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản. Lựa chọn thay thế của chúng ta là lật đổ hệ thống gây ra chúng.Khủng hoảng tính chính danh của các thể chế tư sảnCuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản, với tư cách là một hệ thống kinh tế hiện không thể phát triển lực lượng sản xuất ở bất kỳ mức độ đáng kể nào, và do đó không thể cải thiện mức sống từ thế hệ này sang thế hệ khác, đã dẫn đến một cuộc khủng hoảng tính chính danh sâu sắc và ngày càng gia tăng của tất cả các thể chế chính trị tư sản..Có một vực thẳm ngày càng xa cách về khoảng cách giàu nghèo, với một số ít tỷ phú ngày càng gia tăng số tài sản của chúng, trong khi ngày càng nhiều người lao động gặp khó khăn hơn trong việc kiếm sống và phải đối mặt với việc cắt giảm chi tiêu khắc khổ, sức mua của tiền lương bị lạm phát ăn mòn, hóa đơn năng lượng tăng cao, khủng hoảng nhà ở, v.v.Truyền thông, chính trị gia, các đảng phái chính trị, quốc hội, ngành tư pháp, tất cả đều bị coi là đại diện cho lợi ích của một nhóm nhỏ tinh hoa đặc quyền, đưa ra quyết định để bảo vệ lợi ích ích kỷ hẹp hòi của riêng chúng thay vì phục vụ nhu cầu của số đông.Điều này đánh dấu sự thay đổi cực kỳ quan trọng, vì giai cấp thống trị trong thời bình thông thường cai trị thông qua các thể chế này, và chúng vốn được chấp nhận rộng rãi và được coi là đại diện cho 'ý chí của đa số'. Giờ đây, điều đó đang bị đặt dấu hỏi bởi ngày càng gia tăng các tầng lớp trong xã hội.Thay vì cơ chế bầu cử tầm thường của nền dân chủ tư sản vốn dùng để làm dịu đi các mâu thuẫn giai cấp, phần đông quần chúng đang bắt đầu đòi hỏi phải có hành động trực tiếp để đạt được mục tiêu cải thiện tình hình. Một bài báo trên tờ Le Monde đã cảnh báo Macron tại Pháp rằng, bằng cách ngăn cản đảng có đa số nghị sĩ được bầu thành lập chính phủ, ông ta đã làm người dân bắt đầu đi đến kết luận rằng các cuộc bầu cử là thứ vô nghĩa. Tại Hoa Kỳ, cứ bốn người thì có một người tin rằng bạo lực chính trị có thể được biện minh để 'cứu' đất nước, tăng từ 15% so với một năm trước đó. Về vấn đề này, điều quan trọng là phải nhấn mạnh sự gia tăng xu hướng khủng bố ở Hoa Kỳ. Chỉ trong vòng vài tháng, chúng ta đã chứng kiến vụ ám sát được cho là của Luigi Mangione đối với CEO của United Healthcare, như một cách để lên án sự lạm dụng của các công ty chăm sóc sức khỏe tư nhân lớn, vụ sát hại hai nhân viên của đại sứ quán Israel tại Washington bởi một nhà hoạt động ủng hộ Palestine, và vụ sát hại một nữ nghị sĩ Dân chủ và chồng bà ở Minnesota, tương tự một vụ tấn công khác vào cùng ngày nhằm vào một thượng nghị sĩ Dân chủ, cũng ở Minnesota. Những hành động sau này do những kẻ cuồng tín cánh hữu gây ra. Hiện tượng khủng bố chính trị tái diễn này ở Mỹ thể hiện sự bất ổn sâu sắc và những mâu thuẫn to lớn đang làm rung chuyển xã hội Mỹ.Sự trỗi dậy của những kẻ mị dân chống đối chính quyền là dấu hiệu cho thấy tính chính danh của nền dân chủ tư sản và các thể chế của nó đang bị xói mòn. Trước đây, khi một chính phủ cánh hữu bị mất uy tín, nó sẽ được thay thế bằng một chính phủ 'tả' dân chủ xã hội, và khi chính phủ đó bị mất uy tín, nó sẽ được thay thế bằng một chính phủ bảo thủ. Quá trình đó không còn lặp lại như trước nữa.Thay vào đó, có những cú lượn ngoắt ngoéo giữa cánh tả và cánh hữu, được truyền thông mô tả là sự phát triển của 'chủ nghĩa cực đoan chính trị'. Nhưng việc củng cố các thái cực trong chính trị chỉ là một cách thể hiện quá trình phân cực xã hội và chính trị, mà đến lượt nó lại phản ánh sự gia tăng của đấu tranh giai cấp. Sự sụp đổ của trung tâm chính trị sau đó là điều khiến giai cấp thống trị khiếp sợ. Họ muốn ngăn chặn nó bằng mọi cách có thể nhưng lại tỏ ra bất lực.Lý do cho điều này không khó để nhận ra. Các chính phủ cánh tả và cánh hữu ngày nay về cơ bản đều thực hiện các chính sách cắt giảm và thắt lưng buộc bụng giống nhau. Điều này dẫn đến sự mất uy tín chung của chính trị, sự gia tăng đều đặn của việc không bỏ phiếu và sự xuất hiện của đủ loại lựa chọn thay thế của bên thứ ba, thường mang tính chất phù du. Những kẻ mị dân cánh hữu đã có thể lợi dụng tâm lý chống chính quyền hiện hữu cũng bởi vì 'phe cánh tả' chính thống không thể đưa ra bất kỳ lựa chọn thay thế thực sự nào.Những lời lẽ ồn ào từ giới cầm quyền tư bản tự do về 'mối nguy của chủ nghĩa phát xít' và 'mối đe dọa của phe cực hữu' nhằm mục đích khơi dậy sự ủng hộ cho thứ chủ nghĩa 'ít tàn ác hơn', với ý tưởng rằng 'tất cả chúng ta phải đoàn kết để bảo vệ nền dân chủ', rằng chúng ta nên 'bảo vệ nền Cộng hòa'. Điều này xảy ra vào thời điểm mà ở hầu hết các quốc gia, những người theo chủ nghĩa tự do đang nắm quyền, thực hiện các cuộc tấn công vào giai cấp công nhân, kích động chủ nghĩa quân phiệt… và cướp mất các quyền dân chủ.Vì vậy, Trump bị gọi là 'phát xít' hoặc 'độc tài' khi ông theo đuổi chính sách trục xuất người nhập cư vì họ ủng hộ Palestine. Vậy thì chúng ta phải gọi chính phủ các nước châu Âu là gì khi chúng đã cấm đoán và đàn áp dã man các cuộc biểu tình ủng hộ Palestine? Chúng ta phải gọi chúng là gì khi ở Đức và Pháp, người nhập cư đang bị bắt giữ và trục xuất vì ủng hộ Palestine?Phe tự do đang lợi dụng tòa án để thực hiện những biện pháp hoàn toàn phi dân chủ nhằm ngăn cản các chính trị gia chúng không ưa tham gia tranh cử (như Le Pen ở Pháp) hoặc, như trường hợp Romania, hủy bỏ bầu cử khi chúng không hài lòng với kết quả! Rồi chúng lại quay ngoắt lại và kêu gọi 'đoàn kết để bảo vệ dân chủ' và 'tạo ra bức phòng tuyến chống lại phe cực hữu'.Đây là một chính sách tội phạm, trên thực tế nhằm mục đích tăng cường sự ủng hộ cho những kẻ mị dân cánh hữu, những kẻ sau đó có thể nói: "Thấy chưa, cánh hữu và cánh tả, tất cả đều như nhau".Những người cộng sản sẽ chống lại bất kỳ biện pháp phản động nào chống lại lợi ích của giai cấp công nhân và chống lại các quyền dân chủ, nhưng sẽ là tai họa nếu bị coi là ủng hộ 'dân chủ' nói chung (tức là ủng hộ nhà nước tư bản) hoặc kết hợp các biểu ngữ với phe tự do khi chúng tấn công những kẻ mị dân cánh hữu.Trên thực tế, những ngôn từ mê hoặc mà những kẻ mị dân cánh hữu sau đó sẽ luôn bộc lộ bản chất ảo tưởng của chúng đến mức khiến cho nó trở nên trái ngược hoàn toàn với tình hình thực tế. Trump đã nắm quyền ở Mỹ rồi. Ông ta đã đưa ra rất nhiều lời hứa. Ông ta đang dựa vào kỳ vọng của hàng triệu người, những người nghĩ rằng ông ta thực sự sẽ 'Đưa nước Mỹ vĩ đại trở lại'. Nhưng đây hoàn toàn là một ảo tưởng. Đối với tầng lớp lao động, đưa nước Mỹ vĩ đại trở lại đồng nghĩa với việc có được những công việc tử tế, lương cao. Điều đó có nghĩa là họ có thể sống đến cuối tháng mà không bị ép làm hai hoặc ba công việc khác nhau, hoặc phải bán huyết tương để kiếm sống.Hàng triệu người dân Hoa Kỳ đang ảo tưởng mạnh mẽ rằng Trump sẽ mang lại 'những ngày tươi đẹp' của thời kỳ hậu chiến. Nếu có một điều chắc chắn thì đó là điều này sẽ không xảy ra. Cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản đồng nghĩa với việc ngày nay, khả năng quay trở lại thời kỳ hoàng kim của sự bùng nổ kinh tế hậu chiến, hay những năm 1920 sôi động, đã bị loại trừ.Không loại trừ khả năng, trong một thời gian ngắn, một số biện pháp này - ví dụ như thuế quan thúc đẩy phát triển công nghiệp ở Hoa Kỳ gây bất lợi cho các quốc gia khác - có thể tạo ra một chút tác động tích cực ở Mỹ. Nhiều người cũng sẽ tin tưởng Trump trong một khoảng thời gian. Ông ta cũng có thể sử dụng lập luận rằng chính giới cầm quyền, hay 'các thế lực ngầm', đang ngăn cản ông ta thực hiện các chính sách của mình.Nhưng một khi hiện thực đã phơi bày và những ảo tưởng này bị xua tan, tâm lý chống chính quyền đã ăn sâu bén rễ, vốn đã đưa Trump lên nắm quyền, sẽ dẫn đến một sự dịch chuyển mạnh mẽ sang phía đối lập của cán cân chính trị. Chúng ta có thể thấy một sự dịch chuyển mạnh mẽ và dữ dội không kém sang cánh tả.Có một bài viết của Trotsky có tựa đề Nếu nước Mỹ theo chủ nghĩa Cộng sản, trong đó ông nói về tính khí của người Mỹ được miêu tả là "đầy năng lượng và bạo lực": "Sẽ trái ngược với truyền thống của người Mỹ nếu tạo ra một sự thay đổi lớn mà không có việc chọn phe phái và đấu đá nhau."Người lao động Mỹ là những người thực tế và luôn đòi hỏi phải đạt được những kết quả rõ rệt. Họ sẵn sàng hành động để thấy mọi thứ được hiện ra ngay tầm mắt của mình. Farrell Dobbs, người lãnh đạo cuộc đình công lớn của Công đoàn Teamsters Minneapolis năm 1934, đã chuyển thẳng từ một đảng viên Cộng hòa sang một nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa Trotsky. Trong bài viết về cuộc đình công, ông giải thích lý do tại sao. Với ông, những người theo chủ nghĩa Trotsky là những người đưa ra giải pháp thực tế và hiệu quả nhất để giải quyết các vấn đề mà công nhân phải đối mặt.Ngòi nổ cách mạng: Giới trẻ đang ngày càng trở nên kích độngSự thật là tình hình thế giới đang chất chứa tiềm ẩn cách mạng. Làn sóng nổi dậy năm 2019-2020 đã bị chặn đứng một phần bởi các lệnh phong tỏa do đại dịch COVID-19, nhưng những nguyên nhân dẫn đến làn sóng này vẫn chưa biến mất. Năm 2022, cuộc nổi dậy ở Sri Lanka đã lật đổ tổng thống khi quần chúng tràn vào dinh tổng thống. Các cuộc đình công phản đối cải cách lương hưu ở Pháp năm 2023 đã đẩy chính phủ vào thế khó. Năm 2024, quần chúng ở Kenya, do thanh niên cách mạng lãnh đạo, đã xông vào quốc hội và buộc chúng phải rút lại dự luật tài chính. Tại Bangladesh, một phong trào thanh niên sinh viên, vốn phải đối mặt với sự đàn áp tàn bạo, đã dẫn đến một cuộc nổi dậy trên toàn quốc và lật đổ chế độ Hasina thù địch.Điểm chung của tất cả các phong trào này là vai trò lãnh đạo của giới trẻ. Ngay cả những người dưới 30 tuổi cũng đã đều được phát triển ý thức chính trị khi phải kinh qua cuộc khủng hoảng năm 2008, đại dịch COVID-19, chiến tranh ở Ukraine và vụ thảm sát ở Gaza.Gần đây, chúng ta đã chứng kiến những phong trào quần chúng đáng kể ở Thổ Nhĩ Kỳ, Serbia và Hy Lạp. Trong trường hợp của Hy Lạp, cơn thịnh nộ phản đối việc che đậy thảm họa đường sắt tại Tempi, kết hợp với sự phẫn nộ tích tụ trước tình trạng bần cùng hóa hàng loạt do chính sách thắt lưng buộc bụng dai dẳng và sự bế tắc sâu sắc của chủ nghĩa tư bản Hy Lạp, đã dẫn đến một cuộc tổng đình công lớn và các cuộc biểu tình phản đối lớn nhất trong nước kể từ khi chế độ độc tài sụp đổ. Tính chất quy mô lớn của cuộc tổng đình công, không chỉ liên quan đến giai cấp công nhân mà còn cả các tầng lớp khác trong xã hội (tiểu thương, v.v.), cho thấy đâu mới là sức mạnh áp đảo thực sự trong xã hội tư bản hiện đại. Khi giai cấp công nhân hành động, họ có thể kéo theo tất cả các tầng lớp bị áp bức.Tại Serbia, phong trào biểu tình khi mái vòm nhà ga Novi Sad bị sập đã tạo ra một cuộc khủng hoảng cách mạng, với cuộc biểu tình phản đối lớn nhất trong lịch sử đất nước. Sinh viên đã đóng vai trò quyết định, chiếm đóng các trường đại học và tổ chức thông qua các hội nghị toàn thể sinh viên và đang nỗ lực một cách có ý thức để lan tỏa phong trào đến giai cấp công nhân và nhân dân nói chung bằng cách thành lập các zborovi, hội đồng quần chúng ở các thị trấn và thành phố và nơi làm việc. Phong trào đã kéo dài hơn 9 tháng, với mọi nỗ lực của chế độ Vučić nhằm ngăn chặn phong trào đều phản tác dụng và chỉ tiếp thêm nhiên liệu cho ngọn lửa phẫn nộ càng thêm bùng cháy.Cả hai phong trào này đều làm nổi bật hai đặc điểm chính của tình hình hiện tại: một mặt là sức mạnh tiềm tàng to lớn của giai cấp công nhân và sức ảnh hưởng xã hội thống trị của nó, mặt khác là sự yếu kém tột độ của các yếu tố chủ quan.Thêm vào đó, nhiều tầng lớp thanh niên cũng đã trở nên cực đoan hơn về các vấn đề dân chủ, phong trào phụ nữ quần chúng chống bạo lực và phân biệt đối xử (Mexico, Tây Ban Nha), ủng hộ hoặc bảo vệ quyền phá thai (Argentina, Chile, Ireland, Ba Lan), ủng hộ hôn nhân đồng giới (Ireland), phong trào quần chúng chống lại sự tàn bạo của cảnh sát đối với người da đen (Mỹ và Anh), v.v.Khủng hoảng khí hậu cũng đã trở thành một yếu tố cực đoan đối với thế hệ thanh niên này, những người cảm thấy rất mạnh mẽ, và hoàn toàn đúng đắn, rằng nếu mọi thứ không thay đổi triệt để, sự sống trên Trái Đất sẽ bị đe dọa và hệ thống này phải chịu trách nhiệm.Bộ mặt đạo đức giả kết hợp với tiêu chuẩn kép của chủ nghĩa đế quốc liên quan đến vụ thảm sát ở Gaza, phơi bày cái gọi là 'công ước quốc tế' và sự đàn áp của cảnh sát đối với phong trào đoàn kết Palestine đã làm cho giới trẻ nhận ra bản chất của nhà nước tư bản, truyền thông tư bản và các thể chế quốc tế.Trong tất cả những phong trào này, chúng ta bắt gặp vô số ý tưởng, bao gồm nữ quyền, cải cách, chủ nghĩa Stalin hay chủ nghĩa dân tộc. Nhiệm vụ của chúng ta là nêu bật một lập trường giai cấp, một lập trường vượt lên hoàn toàn giữa biển tư tưởng nhiễu nhương của giai cấp tiểu tư sản. Nhưng đây luôn là một câu hỏi cụ thể, bắt đầu từ những ý tưởng chúng ta gặp phải, cũng như những nhiệm vụ và câu hỏi mà chính phong trào đặt ra. Tùy thuộc vào hoàn cảnh, chúng ta thường bắt đầu một cách thân thiện, bắt đầu với những điều chúng ta đồng thuận, sau đó chỉ ra những điểm chưa thỏa đáng của các giải pháp được đề xuất, đồng thời liên hệ với những nhiệm vụ bao quát hơn của cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội. Như Lenin đã nói vào tháng 4 năm 1917: “trình bày một lời giải thích kiên nhẫn, có hệ thống và kiên trì về những sai lầm trong chiến thuật của họ, một lời giải thích đặc biệt phù hợp với nhu cầu thực tế của quần chúng.”Đồng thời, rõ ràng là một bộ phận ngày càng tăng trong giới trẻ đồng nhất với tư tưởng cộng sản như một lựa chọn thay thế cấp tiến nhất chống lại hệ thống tư bản chủ nghĩa và có thể được tiếp cận trực tiếp thông qua toàn bộ chương trình của chúng ta. Họ chưa phải là đa số, ngay cả là chỉ trong giới trẻ, nhưng chắc chắn đây là một bước phát triển đáng kể.Sự sụp đổ của chủ nghĩa Stalin đã lùi xa 35 năm, vì vậy đối với thế hệ này, tuyên truyền của giai cấp thống trị về “sự thất bại của chủ nghĩa xã hội” hầu như không có ý nghĩa gì. Họ quan tâm đến một điều rằng những gì đáng quan ngại mà họ đang phải chịu đựng là kết quả trực tiếp đến từ sự thất bại của chủ nghĩa tư bản!Khủng hoảng trong vai trò lãnh đạoCon giun xéo lắm cũng phải quằn. Cuộc khủng hoảng của hệ thống tư bản dưới mọi hình thức đã khơi mào hết cuộc nổi dậy cách mạng này đến cuộc nổi dậy cách mạng khác. Cái gọi là trật tự thế giới tự do, vốn đã định hình thế giới trong nhiều thập kỷ, đang sụp đổ trước mắt chúng ta. Sự chuyển hướng sang chủ nghĩa bảo hộ và chiến tranh thương mại đang tạo ra những biến động kinh tế to lớn.Câu hỏi mà chúng ta cần tự hỏi không phải là liệu sẽ có những phong trào cách mạng nào trong giai đoạn mở ra trước mắt hay không. Điều đó tất nhiên rõ như bàn ngày và thừa thãi khi trả lời. Mà câu hỏi quyết định phải được đặt ra là liệu những phong trào này có kết thúc bằng chiến thắng cho giai cấp công nhân hay không?Chúng ta đã chứng kiến một số phong trào cách mạng và các cuộc nổi dậy trong 15 năm qua. Những phong trào này đã chứng minh tinh thần cách mạng to lớn và sức mạnh của quần chúng một khi họ bắt đầu hành động. Họ đã có thể vượt qua vô số lần đàn áp tàn bạo, những lần chính phủ áp dụng các biện pháp khẩn cấp quốc gia, ngăn chặn truyền tải thông tin và đấu tranh chống lại các chế độ man rợ. Nhưng, cuối cùng, không có phong trào nào trong số đó đưa giai cấp công nhân lên nắm quyền.Điều còn thiếu, trong tất cả các phong trào đó, là đội ngũ lãnh đạo cách mạng có khả năng đưa phong trào đến hồi kết tất yếu. Cuộc cách mạng năm 2011 ở Trung Đông và Bắc Phi đã kết thúc bằng các chế độ Bonaparte đàn áp (Ai Cập, Tunisia) hoặc thậm chí tệ hơn là các cuộc nội chiến phản động (Libya và Syria). Cuộc nổi dậy ở Chile đã được chuyển hướng trở lại chủ nghĩa lập hiến tư sản. Cuộc cách mạng Sudan cũng kết thúc bằng một cuộc nội chiến hoàn toàn phản động.Trotsky đã viết trong Chương trình Chuyển tiếp rằng "cuộc khủng hoảng lịch sử của nhân loại được quy về cuộc khủng hoảng của đội ngũ lãnh đạo cách mạng". Những lời này giờ đây đúng hơn bao giờ hết. Yếu tố chủ quan - tức là một tổ chức cán bộ cách mạng bắt nguồn từ giai cấp công nhân - cực kỳ yếu kém khi so sánh với những nhiệm vụ to lớn mà lịch sử đặt ra. Trong nhiều thập kỷ, chúng ta đã phải vật lộn với dòng chảy và đã bị đẩy lùi bởi những luồng chảy khách quan mạnh mẽ.Điều này tất yếu đồng nghĩa với việc những cuộc khủng hoảng cách mạng sắp tới sẽ không thể được giải quyết trong ngắn hạn. Do đó, chúng ta đang đối mặt với một giai đoạn dài đầy thăng trầm, sẽ có những bước tiến và cả những thất bại. Nhưng thông qua tất cả những quá trình này, giai cấp công nhân sẽ học hỏi và đội tiền phong của họ sẽ được củng cố. Cuối cùng, dòng chảy lịch sử đang bắt đầu chảy về phía chúng ta và chúng ta sẽ có thể thuận theo dòng chảy chứ không phải chống lại nó.Nhiệm vụ của chúng ta là tham gia, sát cánh cùng quần chúng giai cấp công nhân, và tạo ra một cầu nối chương trình cách mạng xã hội chủ nghĩa đã được để ra với khát vọng còn dang dở của những thành phần tiên tiến nhất về một sự thay đổi căn bản trong tình thế cách mạng.Việc thành lập Quốc tế Cộng sản Cách mạng năm 2024 là một bước tiến rất quan trọng và chúng ta không nên đánh giá thấp những gì đã đạt được: một tổ chức quốc tế vững chắc dựa trên lý luận Marxist. Trong thời gian gần đây, số lượng thành viên của chúng ta đã tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, chúng ta phải nhìn nhận vào thực tế cán cân thực lực rằng: lực lượng của chúng ta vẫn còn hoàn toàn không đủ cho những nhiệm vụ phía trước.Điểm yếu của yếu tố chủ quan đồng nghĩa với việc trong giai đoạn tiếp theo, sự kích động của quần chúng sẽ thể hiện qua sự trỗi dậy và sụp đổ của các tổ chức và lãnh đạo cải cách cánh tả mới. Một vài trong số các tổ chức ấy thậm chí có những ngôn từ cực đoan, nhưng tất cả đều sẽ vấp phải những hạn chế cơ bản của chủ nghĩa cải cách: chúng không có khả năng đặt ra câu hỏi cơ bản về việc lật đổ hệ thống tư bản và đưa giai cấp công nhân nắm quyền. Vì lý do này, bản chất của chủ nghĩa cải cách chứa đựng sự phản bội đối với giai cấp công nhân. Nhưng trong một khoảng thời gian, một số tổ chức và lãnh đạo cải cách này sẽ tạo ra sự kích động và nhận được sự ủng hộ của quần chúng.Cần thấy được tính cấp bách trong việc xây dựng tổ chức ở khắp mọi nơi. Việc có 100, 1.000 hay 10.000 thành viên khi các cuộc nổi dậy quần chúng bùng nổ trở lại không phải là vấn đề cốt yếu. Một tổ chức với 1.000 cán bộ được đào tạo vào đầu cuộc cách mạng Bolivar ở Venezuela, hay một tổ chức với 5.000 cán bộ có nguồn gốc từ giai cấp công nhân khi Corbyn giành được quyền lãnh đạo Đảng Lao động ở Anh, có thể đã thay đổi tình hình. Ít nhất, với một chính sách và cách tiếp cận đúng đắn đối với phong trào quần chúng, họ đã có thể phát triển thành một lực lượng đáng kể trong phong trào công nhân, trở thành điểm tham chiếu cho các tầng lớp rộng lớn hơn.Trong những điều kiện thích hợp, giữa lúc cao trào của sự kiện, ngay cả một tổ chức tương đối nhỏ cũng có thể chuyển đổi thành một tổ chức lớn hơn nhiều và đấu tranh để giành quyền lãnh đạo quần chúng. Đó là vấn đề trong tương lai xa. Nhiệm vụ hiện tại đề ra trước mắt với chúng ta là phải kiên trì tuyển dụng, và trên hết là đào tạo và giáo dục cán bộ, đặc biệt là trong giới thanh niên công nhân và sinh viên.Một tổ chức bám rễ vững chắc trong quần chúng và được trang bị lý luận Marxist sẽ có thể ứng phó nhanh chóng với những biến động và thay đổi chóng mặt của tình hình. Nhưng một tập hợp lãnh đạo cách mạng không thể ngẫu nhiên ứng biến khi các sự kiện cách mạng nổ ra, mà phải được chuẩn bị từ trước. Đó là nhiệm vụ cấp bách nhất mà chúng ta đang phải đối mặt hiện nay. Thành bại của toàn bộ tình hình cuối cùng sẽ phụ thuộc vào chúng ta. Tư tưởng này phải là động lực chính cho mọi công việc, hy sinh và nỗ lực của chúng ta. Với mọi quyết tâm và sự kiên trì cần thiết, chúng ta có khả năng thành công, và sẽ thành công.[1] là một hệ thống quan hệ giữa các quốc gia được điều chỉnh bởi các quy tắc, chuẩn mực và nghĩa vụ pháp lý — chứ không phải dựa trên sức mạnh, quyền lực hay ý chí đơn phương của một nước nào. Nó được thể hiện qua địa vị pháp lý của các quốc gia được quy định trên các văn bản pháp luật quốc tế. Mặc dù có vẻ bình đẳng giữa các quốc gia nhưng thực tế thường bị chi phối bởi một số nước lớn, đặc biệt là Mỹ trong Liên hợp quốc hay các tổ chức quốc tế khác