Lịch sử của Israel-Palestine cho đến năm 1993

Năm 1940, Trotsky đã cảnh báo về việc những nỗ lực giải quyết 'vấn đề Do Thái' ở Châu Âu bằng cách truất hữu (đất đai)[1] từ người Palestine sẽ là "cái bẫy đẫm máu". Những dự đoán nàu vẫn còn đúng cho tới tận ngày nay. Tuy nhiên, lịch sử thật sự của Israel-Palestine đã bị vùi lấp bởi chồng chất những tấm màn giả tạo.

Trong bài viết này, Francesco Merli lý giải tại sao các giao dịch mờ ám và mưu toan của các nước đế quốc đã mở đường cho sự chia rẽ lịch sử của Palestine. Sự kiện này là minh chứng cho thấy đầu óc thiển cận của giai cấp thống trị, những kẻ đã gây ra nguồn cơn của bạo lực, suy thoái và tai ương trên mảnh đất này từ trước đến nay.

Bài viết theo dấu lịch sử từ nguồn gốc của chủ nghĩa phục quốc Do Thái (Zionism), thông qua sự thành lập nhà nước Israel, Chiến tranh Sáu ngày, phong trào Intifada lần thứ nhất, cho tới sự phản bội của Hiệp định Oslo năm 1993.

Trong hơn một trăm năm qua, Trung Đông đã trở thành bàn cờ chính trị cho các cường quốc đế quốc. Nguồn gốc của sự can thiệp này tới từ vai trò quan trọng của khu vực kể từ cuối thế kỷ 19. Chúng ta đều biết rằng, bên dưới mặt đất Trung Đông là nơi tập trung trữ lượng dầu mỏ chủ yếu của thế giới. Palestine, vì các lý do địa chính trị và lịch sử, ngày càng trở thành tâm điểm của các căng thẳng ở trung Đông.

Quá trình sụp đổ lâu dài của Đế chế Ottoman được thúc đẩy một cách đột ngột với cuộc Cách mạng 'Thanh niên Thổ Nhĩ Kỳ'[2] vào tháng 7 năm 1908. Tuy nhiên, phải cho tới sau khi bị đánh bại trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Đế chế mới tan rã hoàn toàn.

Thỏa thuận này đã bị những người Bolshevik lên án và công bố vào tháng 11 năm 1917 ngay sau cách mạng, làm cho chủ nghĩa đế quốc căm phẫn vô cùng. Tuy nhiên, sau thế chiến, sự phân chia đã diễn ra theo đúng như những đường lối mà Sykes và Picot đã thỏa thuận. Pháp năm quyền kiểm soát Syria và Lebanon. Anh được công nhận vai trò ủy trị đối với vùng Lưỡng Hà (Iraq ngày nay), Palestine và quyền bảo hộ đối với chế độ quân chủ bù nhìn của Transjordan (Jordan ngày nay).

Chủ nghĩa đế quốc Anh đã khơi dậy hy vọng của những người theo chủ nghĩa dân tộc Ả Rập về quê hương Ả Rập. Một cuộc đàm phán theo hướng này đã được Sir Henry McMahon, Cao ủy Anh tại Ai Cập, trong thư từ của ông này với Hussein bin Ali, Sharif[3] của Mecca, đổi lại là sự giúp đỡ của người Ả Rập trong Thế chiến. Cuộc nổi dậy của người Ả Rập chống lại Ottoman đóng vai trò quan trọng trong sự sụp đổ của Đế Chế.​​​​​​​

Tuy nhiên, chủ nghĩa đế quốc Anh không có ý định thực hiện lời hứa hẹn của chúng và quan tâm nhiều hơn về việc mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình. Sự trỗi dậy của ý thức dân tộc Ả Rập lại chính là đại diện cho mối đe dọa chiến lược đối với lợi ích đế quốc của họ.

Câu hỏi Do Thái và Chủ nghĩa phục quốc Do Thái

Lịch sử di cư của người Do Thái đến Palestine gắn chặt với sự trỗi dậy của phong trào Phục quốc Do Thái (Zionist movement) vào cuối thế kỷ 19. Trước thời kỳ này, dân số Do Thái ở Palestine chỉ có vài nghìn người, chủ yếu tập trung ở các khu vực thành thị.​​​​​​​

Một bước ngoặt đã xảy đến khi làn sóng tàn sát Do Thái (pogroms) do cảnh sát mật tiến hành ở đế quốc Nga chống lại cộng đồng người Do Thái thiểu số, lý do vì họ bị buộc phải chịu trách nhiệm cho vụ ám sát Sa hoàng Alexander II năm 1881.

Các đám đông giận giữ do bị kích động bởi dư luận viên được thuê đã tràn vào các khu phố của người Do Thái, cướp bóc và tấn công người dân. Hàng trăm ngàn người Do Thái đã bị buộc phải tháo chạy khỏi Nga và Ukraine để thoát khỏi chiến dịch khủng bố bao gồm các hành vi giết người, đánh đập, hãm hiếp, hành hình và phá hủy sinh kế cũng như tài sản.

Nhiều làn sóng tàn sát Do Thái khác diễn ra vào năm 1903-1906, và thậm chí còn có một làn sóng khác lớn hơn vào năm 1917-1920, tiến hành bởi Bạch Vệ quân trong thời kỳ nội chiến chống lại cách mạng Bolshevik.

Vào cuối thế kỷ 19, một sự kiện chấn động khác đã diễn ra. 1894-1895, Alfred Dreyfus, một sỹ quan Pháp gốc Do Thái đã bị kết án oan vì tội phản quốc. Phiên tòa xét xử viên sỹ quan này đã gây ra làn sóng bài Do Thái tại Pháp.

'Vụ Dreyfus' đóng vai trò quan trọng trong bước chuyển mình sang chủ nghĩa phục quốc Do Thái của Theodor Herzl (1860-1904) - một trí thức tư sản Do Thái quốc tế. Trên thực tế, ngay sau phiên tòa xét xử Dreyfus, Herzl đã viết cuốn Nhà nước Do Thái (The Jewish State), tác phẩm mà sau này trở thành tuyên ngôn chính trị của chủ nghĩa phục quốc Do Thái.

Herzl trở thành người tổ chức và lý luận chính của phong trào Phục quốc Do Thái, về phát triển phong trào này thành một lực lượng quốc tế. Ông ta đã đưa ra các chiến thuật tổ chức di cư hàng loạt người Do Thái từ Châu Âu sang Palestine.

Ông này cũng kết luận rằng sự phát triển của khuynh hướng bài Do Thái ở châu Âu được xem như là động lực tiềm tàng cho dự án của chủ nghĩa Phục quốc Do Thái, một bước đệm để tạo ra sự thay đổi cho những gì mà Herzl coi là sự trì trệ của người Do Thái thế tục [4].

Chính vì lý do đó, phương án chính trị của chủ nghĩa Phục quốc Do Thái dựa trên nỗ lực vận động hành lang (lobbying) các nguyên thủ quốc gia và bộ trưởng châu Âu (thường là những người nhiệt thành bài trừ Do Thái) khi thuyết phục họ rằng: việc người Do Thái di cư đến Palestine là một cơ hội vàng để giúp các quốc gia châu Âu loại bỏ được vấn đề Do Thái, cũng như thực tế là một nhà nước Do Thái ở Palestine có thể hữu ích cho các cường quốc như là một "tiền đồn của nền văn minh Châu Âu chống lại sự man rợ của Châu Á".

Ngay từ ban đầu, phương án của chủ nghĩa Phục quốc Do Thái phải dựa vào sự bảo trợ của các thế lực đế quốc để đảm bảo cho sự ra đời của nó.

Mặt khác, Herzl công khai trấn an chính quyền Ottoman rằng việc người Do Thái nhập cư sẽ chỉ mang lại lợi ích vật chất cho Đế chế, để đảm bảo sự tuân thủ cần thiết đối với chính quyền Ottoman. Tuy nhiên, đối với cá nhân Herzl, ông thừa nhận rằng không thể có nhà nước Do Thái nếu không tước đoạt và trục xuất người Palestine.

“Chúng ta phải tước đoạt một cách nhẹ nhàng. […] Chúng ta sẽ cố gắng đưa những người dân nghèo khổ qua biên giới bằng cách tạo việc làm cho họ ở các quốc gia trung chuyển, trong khi không được trao cho họ bất cứ cơ hội việc làm nào trên đất nước chúng ta. […] Cả quá trình tước đoạt và việc di dời lũ nghèo đói đều phải được thực hiện một cách kín đáo và thận trọng.” Herzl đã ghi chú trong nhật ký của mình vào năm 1895 (trích dẫn từ B. Morris, Righteous Victims).

Việc hiện thực hóa chủ nghĩa Phục quốc Do thái không tưởng và phản động đã biến Palestine thành chiến trường, và sẽ khiến người Palestine (bao gồm cả những người định cư Do Thái) phải chịu đựng nỗi thống khổ vô tận. Hậu quả phản động của nó vẫn kéo dài cho tới ngày nay.​​​​​​​

Tuy nhiên, phong trào Phục quốc Do Thái vào đầu thế kỷ 20 vẫn chỉ đại diện cho thiểu số, giới hạn trong nhóm nhỏ gồm các nhà tư bản, trí thức tiểu tư sản và những người bảo trợ Do Thái.

Sự phát triển của ý thức dân tộc Ả Rập

Một mối lo ngại thường trực của giới lãnh đạo theo chủ nghĩa Phục quốc Do Thái là công nhân Ả Rập sẽ tổ chức chống lại sự bóc lột của chúng. Một nỗi sợ khác bên cạnh đó là sự phát triển của ý thức dân tộc Ả Rập sẽ thống nhất người Ả Rập trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa thực dân Phục quốc Do Thái.​​​​​​​

Ý thức dân tộc Ả Rập bắt đầu phát triển vào những năm 1880. Phong trào Thanh niên Thổ Nhĩ Kỳ (Young Turk) năm 1908 đã khơi dậy hy vọng giải phóng cho tất cả các dân tộc trên khắp Đế chế Ottoman.

Sự chuyển hướng nhanh chóng của chế độ mới sang chủ nghĩa dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ đã thúc thúc đẩy quá trình hình thành ý thức dân tộc của hàng loạt các dân tộc khác nhau thuộc Đế chế, đặc biệt là những người Ả Rập - dân tộc cùng sinh sống trên một vùng lãnh thổ trải dài từ Iraq ngày nay đến Maroc, có chung ngôn ngữ và truyền thống.​​​​​​​

Ở Palestine, quá trình này diễn ra thậm chí còn nhanh hơn, do sự thù địch với những hậu quả của làn sóng nhập cư Do Thái gây ra ngày càng gia tăng. Cứ mỗi một tấc đất bị bán thanh lý cho người ngụ cư (Do Thái) tất yếu kéo theo việc trục xuất nông dân Palestine, những người thường không có khả năng biết về việc chủ đất chính thức (người Palestine) vắng mặt đã bán đất cho những người mới đến do được lợi từ giá đất tăng cao.

Theo nhà sử học Bennu Morris, giá đất trung bình đã tăng từ 5.3 bảng Palestine[5] trên một dunam[6] vào năm 1929 lên đến 23.3 vào năm 1935. Giá đất năm 1944 đã tăng gấp 50 lần so với năm 1910.

Những người ngụ cư không nói được tiếng Ả Rập, cũng không quen thuộc với văn hóa và truyền thống địa phương. Trong nhiều trường hợp họ còn chẳng bận tâm tới việc thích nghi và làm quen chúng, vi phạm các phong tục đã tồn tại lâu đời về đất đai chung, đồng cỏ, và trên hết là quyền tiếp cận nguồn nước[7]. Chỉ ít lâu sau, người Palestine cảm nhận được mối đe dọa ngày càng lớn từ dòng người ngụ cư liên tục ập tới.

Tuyên bố Balfour​​​​​​​

Các nhà chiến lược của chủ nghĩa đế quốc Anh đã thấy được lợi ích từ việc này. Chúng hiểu rằng dự án của chủ nghĩa Phục quốc Do Thái có thể trở thành công cụ hữu ích để theo đuổi kế hoạch của Anh đối với Trung Đông sau khi đế chế Ottoman sụp đổ.

Vào ngày 2 tháng 11 năm 1917, sự thay đổi này được tóm gọn trong bức thư do Huân tước Balfour, thay mặt cho chính phủ Anh, gửi tới Huân tước Rothschild và Liên đoàn Phục quốc Do Thái: Tuyên bố nêu rõ:

"Chính phủ của Hoàng gia ủng hộ việc thành lập một quốc gia cho người Do Thái tại Palestine và sẽ nỗ lực hết sức để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đạt được mục tiêu này, điều mang nghĩa rõ ràng rằng sẽ không có hành động nào có thể gây phương hại đến các quyền dân sự và tôn giáo của các cộng đồng không phải người Do Thái hiện có tại Palestine, hoặc quyền và địa vị chính trị mà người Do Thái được hưởng ở bất kỳ quốc gia nào khác."

Điều khoản phụ đã cho thấy rõ ràng rằng ngay cả vào thời điểm đó, những người theo chủ nghĩa đế quốc Anh đã hiểu rõ những ẩn ý đằng sau sự tán thành của họ. Trên cơ sở tư bản chủ nghĩa, cái gọi là 'giải pháp' cho sự áp bức lâu đời đối với người Do Thái tất yếu dẫn đến việc lại thổi bùng lên 'câu hỏi Palestine'.

Năm 1923, một người theo chủ nghĩa Phục quốc Do Thái hữu khuynh, Vladimir Jabotinsky đã viết bản tuyên ngôn chính trị của mình - Bức Tường Sắt (The Iron Wall). Ông ta thừa nhận tầm quan trọng của tuyên bố Balfour và lập luận rằng người Palestine buộc phải khuất phục trước "bức tường sắt được tạo thành từ lưỡi lê Do Thái", và còn nói bổ sung thêm cả "lưỡi lê của Anh" sau đó. Theo quan điểm của Jabotinsky, tính khả thi của dự án phục quốc Do Thái dựa vào sự ủng hộ và bảo trợ của chủ nghĩa đế quốc Anh.

Điều này đã trở thành hiện thực sau khi đế chế Ottoman sụp đổ và chế độ ủy trị Anh được thành lập ở Palestine.

Dưới quyền cai trị của người Anh, những người theo chủ nghĩa Phục quốc Do Thái được phép phát triển các thể chế bán nhà nước[8] bao gồm: Cơ quan Do Thái (Jewish Agency) vai trò một chính phủ phôi thai; Quỹ quốc gia Do Thái (Jewish National Fund) là kênh chuyển tiền và mua đất; và quan trong nhất là một lực lượng dân quân Do Thái - Haganah[9].

Tuy nhiên, khi Thế chiến thứ nhất nổ ra, vẫn không có quá 60.000 người Do Thái ở Palestine, đất đai được mua lại chỉ tương ứng với 1.5 phần trăm diện tích đất sẵn có. Vào những năm 1920, do lệnh ủy trị của Anh lên Palestine, dòng người định cư mới gia tăng nhanh chóng.

Năm 1929, tổng thống kê của người Do Thái di cư từ năm 1880 như sau: trong số 4 triệu người Do Thái di cư trong giai đoạn đó từ Trung và Đông Âu, chỉ có 120.000 người đến Palestine (một số chỉ ở tạm thời), so với 2.9 triệu người đến Hoa Kỳ, 210.000 người đến Anh, 180.000 người đến Argentina, 125.000 người đến Canada. Dân số người Do Thái định cư ở Palestine ngày càng tăng, đạt 150.000 người vào năm 1929 và tăng lên hơn 400.000 người vào năm 1936.

Xung đột ngày càng gia tăng giữa người Palestine và người ngụ cư đạt đến đỉnh điểm là cuộc bạo loạn Jaffa vào tháng 5 năm 1921, khiến hàng chục người thiệt mạng ở cả hai bên.

Tháng 8 năm 1929, cuộc nổi dậy của người Palestine chống lại sự chiếm đóng của Anh đã trở nên đẫm máu, với một loạt các cuộc tấn công nhằm vào cộng đồng Do Thái. Một trong các cuộc tấn công này đã hướng vào cộng đồng Do Thái Palestine nhỏ ở Hebron (khoảng 600 người), điều đáng nói là cộng đồng này đã tồn tại từ thế kỷ 16.

Kết quả là 66 người Do Thái đã thiệt mạng, mặc dù có nhiều người Palestine thậm chí đã cố gắng bảo vệ những người chạy trốn bằng cách cho họ trú ẩn trong nhà của họ. Cộng đồng Do Thái ở Herbon đã bị xóa sổ. Haganah đã đẩy lui các cuộc tấn công khác. Dẫu vậy, vẫn thật bi thảm khi có tới 133 người Do Thái và 116 người Palestine thiệt mạng trong 'những ngày đẫm máu' tháng 8 năm 1929.

Sự kiện này tạo ra động lực quyết định thúc đẩy củng cố lực lượng dân quân Do Thái - Haganah ngày càng hợp tác chặt chẽ với lực lượng chiếm đóng của Anh.

Sự hình thành của Đảng Cộng sản Palestine

Trong những năm 1920-1930, đã xuất hiện các cơ hội để hình thành giải pháp mang tính cách mạng, dựa trên giai cấp công nhân, có thể tránh được nguy cơ xảy ra cuộc nội chiến mà trong đó công nhân Do Thái và công nhân Ả Rập phải gánh chịu tất cả.

Vào đầu những năm 1920, sự hiện diện của chính quyền thực dân Anh đã thúc đẩy công nghiệp phát triển lên một mức độ nhất định tại dải duyên hải, giúp tạo ra một khu vực kinh tế nơi công nhân Do Thái và Palestine làm việc cùng nhau. Sự phát triển này đã tác động đến nền kinh tế chủ đạo nông thôn của Palestine và tạo ra làn sóng nhập cư ồ ạt từ nông thôn đến các thành phố ven biển.

Xoay quanh chính quyền thực dân, đường sắt, công ty điện thoại, bưu điện và điện tín, xưởng cảng đóng tàu, các cơ quan hành chính dân sự được bổ sung vào hệ thống quản lý của địa phương các thành phố có dân số hỗn hợp; và trong khu vực tư nhân, một số công ty lớn có vốn nước ngoài đã sử dụng lao động Do Thái và Palestine. Ví dụ như nhà máy xi măng Nesher, nhà ga trung chuyển của Công ty Dầu mỏ Iraq và nhà máy lọc dầu ở Haifa, cùng với đó là ngành công nghiệp xây dựng phát triển nhanh chóng.

Trong điều tra dân số năm 1922-1931, dân số Ả Rập Palestine đã tăng 40% và ở các thành phố như Jaffa và Haifa tăng lần lượt 63% và 87%. Những người mới chuyển đến đã làm gia tăng hàng ngũ của giai cấp vô sản trong mọi lĩnh vực, nhanh chóng thúc đẩy một làn sóng đấu tranh công đoàn rõ rệt. Làn sóng nhập cư từ nông thôn đã được kết hợp với làn sóng nhập cư từ các nước láng giềng, đặc biệt là Ai Cập.

Việc thiếu lực lượng lao động Do Thái để thay thế lao động Ả Rập dẫn đến thường xuyên phải nhập khẩu lao động Do Thái giá rẻ vào Palestine từ Yemen hoặc Maghreb. Họ là một bộ phận của tầng lớp lao động Do Thái bị bóc lột đặc biệt nặng nề. Những người lao động Do Thái này rất xa cách (hầu như không liên quan) đến phần lớn những người theo chủ nghĩa Phục quốc Do Thái gốc Châu Âu - vốn chủ yếu là những kẻ nói tiếng Yiddish và nắm giữ mọi vị trí lãnh đạo trong các tổ chức Phục quốc Do Thái.

Trong thời kỳ này, nảy sinh sự chia rẽ ngày càng gay gắt giữa người Do Thái Ashkenazi[10]Do Thái Sephardic[11], điều này vẫn còn đặc trưng trong trong hội Israel ngày nay.

Người Do Thái Sephardic (Sephardim) nói tiếng Ladino, một phương ngữ bắt nguồn từ tiếng Tây Ban Nha. Đa phần họ có thể nói và hiểu tiếng Ả Rập và có địa vị xã hội cao hơn một chút so với phần lớn giai cấp vô sản Ả Rập. Trong những điều kiện như vậy, ý thức giai cấp nhanh chóng nảy sinh trong lớp người này, những người mà theo bản năng cảm thấy gần gũi với người Ả Rập hơn là các ông trùm Do Thái lớn như Rothschild và đồng bọn.

Tuy nhiên, các đảng 'xã hội chủ nghĩa' theo kiểu Phục quốc Do Thái đã phản đối gay gắt bất cứ yêu cầu mở cửa công đoàn nào của công nhân Do Thái cho công nhân Ả Rập.

Sự khác biệt của các đảng này trải dài từ đảng Hadut Haavoda của David Ben-Gurion, ủng hộ việc thành lập liên minh của người Ả Rập nhưng trong các tổ chức riêng biệt có "phẩm giá bình đẳng" (dưới sự lãnh đạo của người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái), và đảng Hapoel Hatzair của Hayyim Arlosoff, bảo vệ bản chất độc quyền giữa những người Do Thái trong tổ chức công đoàn nhằm thúc đẩy sự phân công lao động ngày càng tăng giữa tầng lớp quý tộc lao động Do Thái có nhiều công việc lành nghề nhất và được trả lương cao nhất với lượng lớn lao động chân tay người Ả Rập không có tổ chức.

Một đảng khác của phe cánh tả theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái, Po'aley Tziyon, đã bày tỏ quan điểm thứ ba. Đảng này đã chuyển sang lập trường bán cách mạng bằng cách tìm kiếm tư cách trở thành thành viên trong Quốc tế Cộng sản (CI) vào năm 1924, mặc dù không hoàn toàn từ bỏ chủ nghĩa phục quốc Do Thái. Quốc tế Cộng sản đã từ chối chấp nhận một đảng chưa hoàn toàn thoát khỏi chủ nghĩa phục quốc Do Thái. Điều này dẫn đến sự chia rẽ và thành lập Đảng Cộng sản Palestine (PCP). Đảng mới này sau đó ngay lập tức bị trục xuất khỏi công đoàn Do Thái Histadrut [12].

Các cuộc đấu tranh của công nhân và sự thống nhất giai cấp

Đảng Cộng sản Palestine (Palestine Communist Party-PCP) bảo vệ lập trường ủng hộ các công đoàn thống nhất, không phân biệt quốc gia dân tộc hay tôn giáo. Bằng cách theo đuổi đường lối chính trị này, Đảng Cộng sản Palestine có thể tận dụng được tinh thần đấu tranh đang lên cao và yêu cầu thống nhất xuất phát từ những gì mà những người công nhân đã trải qua. Tuy nhiên, con đường tất yếu hướng tới sự thống nhất đó đã bị cả giới lãnh đạo theo chủ nghĩa Phục quốc Do Thái và cả những người theo chủ nghĩa dân tộc Ả Rập phản đối và cản trở.

Đảng Cộng sản Palestine đã bén rễ trong giai cấp công nhân Ả Rập và Do Thái. Họ đã xuất bản hai tờ báo bằng cả hai thứ tiếng. Mặc dù lực lượng ủng hộ chính là công nhân Ả Rập, Đảng Cộng sản Palestine đã giành được 8% số phiếu bầu trong cuộc bầu cử Yishuv (Hội đồng Do Thái), hơn 10% nếu xét đến số phiếu bầu ở các thành phố.

Một sự kiện xảy ra, tuy vẫn còn những hạn chế nhưng có ý nghĩa rõ rệt, đã cho thấy tiềm năng thúc đẩy thống nhất giai cấp thông qua đình công. Hai trăm công nhân Do Thái tại nhà máy xi măng Nesher ở Haifa đã tham gia cuộc đình công cùng với 80 công nhân Ai Cập, đưa ra các yêu sách của riêng họ, khi công nhân Ai Cập chỉ được đáp ứng một số quyền và trả bằng một nửa.

Sau cuộc đình công kéo dài hai tháng, giới chủ đã nhượng bộ cho một số yêu sách cho công nhân Do Thái. Thỏa thuận này đã bị bỏ phiếu bác bỏ, với 170 phiếu đồng ý bác bỏ và 30 phiếu chống (bất chấp lập trường của công đoàn mà họ tham gia) và công nhân Do Thái tuyên bố sẽ tiếp tục đình công cho đến khi yêu sách của các đồng chí Ai Cập được đáp ứng đầy đủ.

Mối lo ngại về sự lan tỏa của sự kiện này đã thúc đẩy ban lãnh đạo Histadrut gây áp lực lên chính quyền thực dân Anh, chính quyền này sau đó đã đàn áp bằng cách trục xuất tất cả 80 công nhân Ai Cập.

Xu hướng đoàn kết đấu tranh của công nhân đã xuất hiện nhiều lần trong thập kỷ 1925-1935. Chúng ta phải nhắc đến cuộc đình công của thợ làm bánh, cuộc đấu tranh của công nhân cảng Haifa và công nhân đường sắt, cuộc đình công trong ngành vận tải công cộng và tài xế tắc xi năm 1931. Năm 1935 chứng kiến cuộc đấu tranh quan trọng của công nhân Công ty Dầu mỏ Iraq và nhà máy lọc dầu Haifa.

Trong suốt những năm đó, Đảng Cộng sản Palestine đã tổ chức các công đoàn độc lập với Histadrut và giành được sự ủng hộ quan trọng ở nhiều khu vực trong số phần lớn công nhân Ả Rập và nhiều công nhân Do Thái. Những thành công của họ đã buộc những kẻ theo chủ nghĩa Phục quốc Do thái phải thay đổi chiến thuật, thúc đẩy các công đoàn Ả Rập liên kết với các công đoàn Phục quốc Do Thái để chống lại ảnh hưởng của những người Cộng sản.

Tuy nhiên, tiềm năng to lớn mà Đảng Cộng sản Palestine thể hiện đã bị lãng phí do hậu quả từ sự thoái hóa của Liên Xô theo chủ nghĩa Stalin. Bộ máy quan liêu Liên Xô dưới thời Stalin đã biến Quốc tế Cộng sản thành một công cụ đơn thuần để theo đuổi các lợi ích ngoại giao của mình. Đồng nghĩa với việc từ bỏ chính sách cách mạng đúng đắn về sự thống nhất giai cấp, bằng cách xuôi chiều theo chủ nghĩa dân tộc Ả Rập trong cuộc nổi dậy vĩ đại của người Palestine năm 1936-39, dẫn đến việc mất đi phần lớn sự ủng hộ của Đảng Cộng sản Palestine trong số những người lao động Do Thái.

Trong Thế chiến thứ hai, Đảng Cộng sản Palestine đã phải chịu một đòn giáng thậm chí còn lớn hơn nữa khi Moscow thay đổi thái độ quay ngoắt 180 độ, ủng hộ hợp tác chiến tranh với chủ nghĩa đế quốc Anh, làm suy yếu nền tảng của đảng trong tầng lớp lao động Palestine, trước khi nhận một đòn chí tử vào năm 1948 bởi quyết định của Liên Xô ủng hộ việc thành lập Israel.

Vai trò phản động của giới tinh hoa Palestine

Trong bộ phận người Palestine, phe dân tộc chủ nghĩa mới nổi thuộc về bá quyền của các gia tộc tinh hoa thống trị, làm việc trong các vị trí công chức thành phố, thẩm phán, cảnh sát, viên chức tôn giáo cho chính quyền Ottoman và sau đó là chính quyền thực dân Anh. Lớp người này nổi lên như là bộ phận lãnh đạo quốc gia của người Palestine. Tuy nhiên, giới tinh hoa đã hoàn toàn tách mình khỏi quần chúng nghèo đói và mù chữ.

Cuộc đấu tranh giành quyền lực tối cao giữa các gia tộc Husayni và Nashashibi tại Palestine, vào giữa những năm 1930, đã dẫn đến sự hình thành của hai đảng dân tộc chủ nghĩa Ả Rập đối địch. Đảng Phòng vệ Quốc gia do Nashashibi lãnh đạo đã bị Đảng Ả Rập Palestine cực đoan hơn phản đối. Tuy nhiên, lòng trung thành của Husayni và Nashashibi đối với chủ nghĩa dân tộc Ả Rập không ngăn cản được việc cả hai đã bí mật bán đất cho những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái.

Đảng Ả Rập Palestine đã cực đoan hóa lập trường của mình theo đường lối bài Do Thái. Nhiều người theo chủ nghĩa dân tộc Ả Rập (bao gồm cả tổng thống Ai Cập tương lai Anwar Sadat) công khai ủng hộ chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa Quốc xã. Những lời lẽ ủng hộ Hitler của Amin al-Husayni trong bài phát biểu trước Lãnh sự Đức tại Jerusalem đã trở thành biểu tượng cho chủ trương này: "Những người Hồi giáo trong và ngoài Palestine hoan nghênh chế độ mới của Đức và hy vọng hệ thống chính phủ phát xít chống lại lập trường dân chủ (anti-democratic) sẽ mở rộng sang các quốc gia khác".

Các nhóm dân tộc chủ nghĩa Ả Rập có vũ trang đã phát triển. Nhóm 'Bàn tay đen' (Black Hand), do Sheikh Izz al-Din al-Qassam lãnh đạo, đã thực hiện các cuộc tấn công thưa thớt nhằm vào những người định cư Do Thái kể từ năm 1931. Al-Qassam đã bị quân đội Anh giết chết trong một cuộc phục kích vào ngày 21 tháng 11 năm 1935, do đó trở thành một hình tượng cho tinh thần dân tộc Ả Rập.

Tốc độ nhập cư của người Do Thái đã tăng lên trong suốt những năm 1930. Từ năm 1931 đến năm 1934, một đợt hạn hán kéo dài đã tấn công Palestine. Năm 1932, sản lượng nông nghiệp giảm mạnh từ 30 đến 75 phần trăm, tùy thuộc vào loại cây trồng và khu vực bị ảnh hưởng. Điều này càng làm xơ xác các ngôi làng Palestine và gây ra tình trạng quá tải ở các khu ổ chuột xung quanh Jaffa và Haifa.

Một cuộc khủng hoảng tài chính cũng xảy ra ở Palestine, do ảnh tưởng xấu của tình hình Abyssinia, dẫn đến nhiều công ty phá sản. Những yếu tố này kết hợp với nhau làm trầm trọng thêm tình cảnh của quần chúng Palestine.

Cuộc đại nổi dậy của người Palestine năm 1936-1939

Các cuộc đụng độ năm 1921 và 1929, mặc dù dữ dội và đẫm máu, chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến một bộ phận nhỏ dân số Ả Rập và Do Thái.

Tuy nhiên, phải cho tới tháng 4 năm 1936, cuộc nổi dậy của người Palestine mới lan rộng dựa vào quần chúng ở các thành phố, nơi các "Ủy ban quốc gia" được thành lập tự phát theo sáng kiến ​​của những thanh niên cực đoan Shabab. Các nhà lãnh đạo truyền thống e ngại đối đầu trực diện với chính quyền Anh. Phải đến ngày 25 tháng 4, Ủy ban cao cấp Ả Rập mới được thành lập để lãnh đạo cuộc nổi dậy dưới sự dẫn dắt của Husayni.

Phong trào nổi dậy đặc trưng với cuộc tổng đình công của người Ả Rập kéo dài sáu tháng, đấu tranh bán bạo động liên tục và du kích vũ trang ở vùng nông thôn (từ giữa tháng 5 đến giữa tháng 10).

Bản thân Ben-Gurion đã ghi nhận quy mô khác biệt của cuộc nổi loạn này, ông đã viết rằng người Ả Rập đang "chiến đấu chống lại sự truất hữu... Người Ả Rập đang chiến đấu trong một cuộc chiến không thể bị làm ngơ. Họ ra ngoài đình công, họ bị giết, họ phải hy sinh rất nhiều". Ông cũng chỉ ra vào ngày 19 tháng 5 năm 1936: [Những người Ả Rập] "nhìn nhận... hoàn toàn ngược lại với những gì chúng ta (người Anh) nhìn nhận về họ. Chưa cần biết quan điểm của họ có đúng hay không... Họ nhìn thấy làn sóng nhập cư trên quy mô lớn... họ nhìn thấy người Do Thái đang được củng cố thông qua nền kinh tế... Họ nhìn thấy những vùng đất tốt nhất rơi vào tay chúng ta. Họ nhìn thấy nước Anh đồng nhất với chủ nghĩa phục quốc Do Thái".

Những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái (đi đầu là công đoàn Histadrut) đã theo đuổi chính sách phá hung hăng để phá vỡ cuộc đình công, nhằm thay thế lao động người Palestine bằng lao động Do Thái theo từng công ty.

Năm 1937, thư ký của liên đoàn công đoàn ở Jaffa đã giải thích lập trường của những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái như sau:

“Mục tiêu cơ bản của Histadrut là ‘chinh phục lao động.’… Bất kể có bao nhiêu người Ả Rập thất nghiệp, chúng không có quyền đảm nhận bất kỳ công việc nào mà một người nhập cư (không phải Ả Rập) có thể được làm. Không người Ả Rập nào có quyền làm việc trong các doanh nghiệp của người Do Thái. Nếu người Ả Rập cũng có thể bị thay thế trong các công việc khác… thì điều đó thật tuyệt vời.” (Trích dẫn trong Benny Morris, Righteous Victims, trang 122.)

Trong nhiều tháng, giới chức trách Anh không có lựa chọn nào khác ngoài việc chờ đợi sự suy yếu sức mạnh của cuộc bạo loạn. Chỉ đến ngày 7 tháng 9, thiết quân luật mới được ban bố và lệnh giới nghiêm được áp dụng. 20.000 binh lính được đưa đến từ Anh và Ai Cập, với sự hỗ trợ của 2.700 cảnh sát Do Thái. Một chiến dịch chống nổi loạn bắt đầu, khiến các nhà lãnh đạo Ả Rập phải hủy bỏ cuộc đình công vào ngày 10 tháng 10, hy vọng rằng nó sẽ dẫn đến một giải pháp đàm phán.

Chính phủ Anh đã triệu tập Ủy ban Hoàng gia do Huân tước Peel đứng đầu để tiến hành một cuộc thẩm tra và đề ra các điều khoản giải quyết xung đột Palestine-Zionist. Báo cáo Peel, dài 404 trang, được công bố vào ngày 7 tháng 7 năm 1937, đã khuyến nghị phân chia Palestine: 20 phần trăm lãnh thổ cho Nhà cầm quyền Do Thái; Jerusalem và một dải đất hẹp dẫn đến Jaffa do Anh quản lý, cũng như các thành phố ven biển có dân số hỗn hợp; phần còn lại sẽ gia nhập Transjordan và thành lập một quốc gia Ả Rập duy nhất. Hệ quả của đề xuất này là việc chuyển giao cưỡng bức 225.000 người Palestine và 1.250 người Do Thái.

Các nhà lãnh đạo Phục quốc Do Thái Weizmann và Ben-Gurion coi Báo cáo Peel là bước đệm để tiếp mở rộng (lãnh thổ và ảnh hưởng của người Do Thái) hơn nữa. Weizmann bình luận: "Người Do Thái sẽ là những kẻ ngốc nếu không chấp nhận nó, ngay cả khi [vùng đất họ được chia] chỉ bằng một chiếc khăn trải bàn". Do đó, báo cáo đã được những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái chấp nhận, trong khi Ủy ban cấp cao Ả Rập thì bác bỏ.

Giai đoạn thứ hai của cuộc nổi dậy

Vào tháng 9 năm 1937, cuộc nổi dậy lại tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, nhưng Ủy ban cấp cao Ả Rập đã bị chia rẽ bởi một cuộc đấu đá nội bộ, bắt nguồn từ nỗ lực ám sát của Husayni nhằm vào thủ lĩnh phe đối lập hồi tháng 7 năm 1937. "Người Ả Rập đang bị chia cắt bởi một dòng sông máu", Elias Sasson, một quan chức cấp cao của Cơ quan Do Thái nhận định vào tháng 4 năm 1939.

Cuộc bạo loạn tiếp tục diễn ra trong vòng xoáy các cuộc xung đột và đàn áp. Ủy ban cấp cao Ả Rập đã bị tuyên bố là phạm pháp, 200 nhà lãnh đạo của ủy ban đã bị bắt, nhiều người trong số họ bị treo cổ, trong khi những người khác bị xử tử.

"Báo cáo Peel" đã thúc đẩy đảng xét lại cánh hữu Do Thái (những người yêu cầu xem xét vai trò Ủy trị của Anh) phát động một chiến dịch khủng bố chống lại người dân thường Palestine. Nhiều vụ đánh bom của Irgun Zwai Leumi đã tấn công thường dân Palestine tại các bến xe buýt và các khu chợ, giết chết và làm bị thương hàng trăm người.

Các nhóm vũ trang Palestine đã hành động mà không có bất kỳ sự chỉ huy tập trung nào cả. Nhiều người trong số họ, không có định hướng đấu tranh, không may đã trở thành các băng đảng tội phạm và đi cướp bóc nông dân Palestine, sau đó nhanh chóng không còn nhận được sự ủng hộ. Tình hình này đã làm suy yếu triển vọng của cuộc nổi dậy.

Cuộc nổi dậy tiếp tục cho đến tháng 5 năm 1939, với sự tham gia của khoảng 20.000 chiến binh Palestine vào thời điểm đỉnh cao mùa thu năm 1938. Vào đêm trước Thế chiến thứ hai, cuộc nổi dậy của người Ả Rập chống lại sự chiếm đóng của Anh gay gắt và kéo dài nhất đã kết thúc với số người chết lên tới hàng nghìn người và cuối cùng đã đi đến thất bại.

Chiến tranh thế giới thứ hai và cuộc thảm sát Holocaust [13]

Thất bại của cuộc nổi dậy đã gây ảnh hưởng dẫn tới một bước ngoặt lớn trong chính sách của chủ nghĩa đế quốc Anh. Người Anh lo sợ một cuộc nổi dậy mới của người Ả Rập sẽ bùng nổ, trong khi mà họ còn phải điều động lực lượng cho các mặt trận khác nữa. Hơn thế, chủ nghĩa đế quốc Anh không muốn gây hấn với giai cấp tư sản Ả Rập, trong nỗ lực ngăn chặn họ hợp tác với Đức Quốc xã.

Trong Sách trắng do chính quyền thực dân soạn thảo (xuất bản ngày 17 tháng 5 năm 1939), lần đầu tiên đưa ra hạn mức nhập cư của người Do Thái (giới hạn tối đa là 75.000 người trong năm năm tiếp theo) và những giới hạn nghiêm ngặt đối với việc mua đất của người Do Thái. Sách trắng cũng đặt ra triển vọng trong vòng mười năm sau khi thành lập một nhà nước độc lập được quản lý theo nguyên tắc đa số.

Tất nhiên, sự thay đổi này không giúp chủ nghĩa đế quốc Anh nhận được nhiều sự ủng hộ hơn từ người Ả Rập. Tuy nhiên, nó đã làm suy yếu mối quan hệ gần gũi của Anh với giới lãnh đạo của chủ nghĩa phục quốc Do Thái. Bước quay ngoặt của Anh (vào đúng thời điểm nỗi sợ về chính sách bài Do Thái của Đức Quốc xã đang gia tăng) đã bị những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái cho là một sự phản bội.

The Zionist leadership used the desperation of the Jews fleeing Europe to strengthen international support for Zionism / Image: public domain

Giới chức trách Anh đã giúp Haganah chuyển sang "phòng thủ tích cực[14]" chống lại người Palestine. Vào tháng 5 năm 1938, Haganah thành lập "các đại đội dã chiến" để áp dụng các chiến thuật chống bạo động ở vùng nông thôn. Một tháng sau, các Biệt đội Đặc nhiệm Đêm được thành lập, với nhiệm vụ khủng bố các khu phố và làng mạc của người Ả Rập ủng hộ cuộc nổi dậy vào ban đêm.

Những chiến thuật tương tự đã được những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái sử dụng ở quy mô lớn hơn nhiều một thập kỷ sau đó, để chắc chắn rằng người Palestine phải tháo chạy khỏi làng mạc và nhà cửa của họ trong nỗi kinh hoàng, trước khi thành lập Israel.

Vào đầu năm 1939, ba đơn vị bí mật được gọi là Pe’luot meyuchadot (“đội tác chiến đặc biệt”) được thành lập với nhiệm vụ thực hiện các cuộc phản công trả đũa vào làng mạc và đơn vị du kích của người Ả Rập, nhưng đồng thời cũng thực hiện những cuộc tấn công vào các đồn bốt của Anh và tiêu diệt những kẻ chỉ điểm. Các đơn vị này được đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của David Ben-Gurion.

Những báo cáo đầu tiên về việc Đức Quốc xã trục xuất hàng loạt người Do Thái bắt đầu lan truyền, cùng với những người tị nạn Do Thái ở châu Âu, tạo ra tác động tâm lý to lớn đối với cộng đồng người Do Thái hải ngoại (đặc biệt là ở Hoa Kỳ), những người thấy không thể chịu đựng được những giới hạn đáng ghét do chính quyền Anh áp đặt đối với vấn đề nhập cư.

Tuy nhiên, thái độ của giới lãnh đạo theo chủ nghĩa Phục quốc Do Thái đối với mối đe dọa của Đức Quốc xã lại tỏ ra đầy ích kỷ và phỉ báng. Vào tháng 12 năm 1938, một tháng sau cuộc thảm sát Do Thái của Đức Quốc xã, sau này được gọi là Kristallnacht, Ben-Gurion tuyên bố:

“Nếu được lựa chọn giữa việc cứu tất cả trẻ em [Do Thái] ở Đức bằng cách chuyển chúng đến Anh hoặc chỉ một nửa trong số chúng bằng cách chuyển chúng đến Eretz-Yisrael, tôi sẽ thà chọn phương án sau - vì chúng ta không chỉ quan tâm tới mệnh hệ của số trẻ em này mà còn là mệnh hệ lịch sử của toàn dân tộc Do Thái”.

Vào tháng 12 năm 1942, ông lại bình luận: “Thảm họa của người Do Thái châu Âu không phải là việc của tôi một cách trực tiếp…” (Trích trong Benny Morris, Righteous Victims, trang 162).

Giới lãnh đạo theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái đã lợi dụng sự tuyệt vọng của những người Do Thái chạy trốn khỏi châu Âu để củng cố sự ủng hộ quốc tế cho chủ nghĩa phục quốc Do Thái và trắng trợn thách thức lệnh cấm nhập cư do chính quyền Anh (những người quyết tâm đàn áp nhập cư bất hợp pháp bằng mọi giá) áp đặt.

Tuy nhiên, một bộ phận cánh hữu của người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái đã từ chối mọi sự hợp tác với người Anh. Vào tháng 11 năm 1944, Lohamei Herut Israel (LEHI), “Những người đấu tranh cho Tự do của Israel” (còn được gọi là Stern gang - băng Stern[15]) đã ám sát Bộ trưởng Anh thường trú tại Trung Đông - Ngài Moyne tại Cairo.

Một loạt thuyền chở đầy người tị nạn được dựng lên để công khai thách thức lệnh cấm của Anh, gây ra cuộc giằng co với các nhà chức trách của chính quyền Ủy trị, những người đã quyết định ngăn chặn mọi nỗ lực và trục xuất hàng nghìn người tị nạn đến các trại tập trung ở Mauritius và Cyprus (đảo Síp). Người tị nạn trở thành những quân cờ, bị mắc kẹt trong một trò chơi quyền lực tàn nhẫn gây ra nhiều thảm kịch.

Vào tháng 11 năm 1940, Haganah đã cho nổ tung con tàu Patria neo đậu tại Haifa chở 1.700 người nhập cư đang chờ trục xuất đến Mauritius, khiến 252 người thiệt mạng. Một con tàu khác, Struma, chở 769 người tị nạn, đã chìm vào ngày 25 tháng 2 năm 1942 tại Biển Đen sau khi chính quyền Anh phủ quyết việc chuyển giao người nhập cư (chỉ một người trên tàu sống sót, tất cả những người khác đều thiệt mạng).

Rất ít người tị nạn Do Thái trốn thoát đến Palestine trong thời gian Thế chiến, trong khi Đức Quốc xã đang tiêu diệt sáu triệu người Do Thái ở châu Âu, cùng với hàng triệu người Slav, Roma, cộng sản và những người chống phát xít thuộc nhiều quốc tịch, tôn giáo và khuynh hướng chính trị khác nhau.

Rất lâu trước khi Nhà nước Israel được tuyên bố (ngày 14 tháng 5 năm 1948), giấc mơ của những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái về việc thành lập một nhà nước có thể bảo vệ người Do Thái, bằng cách tạo ra luồng sinh khí mới cho vùng đất thánh Israel chỉ gây nên một cơn ác mộng.

"Một vùng đất không có người dành tặng cho những con người không có đất" là khẩu hiệu tuyên truyền của những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái áp dụng dưới nhiều hình thức khác nhau – là một sự huyền bí hóa tình hình thực tế của Palestine, xóa bỏ sự hiện diện bất tiện của người Palestine khỏi bức tranh.

Tuy nhiên, giới lãnh đạo của những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái hiểu rất rõ rằng một cuộc xung đột với đa số người Ả Rập để giành quyền kiểm soát Palestine là điều không thể tránh khỏi. David Ben-Gurion, lãnh đạo đầu tiên của nhà nước Israel mới thành lập đã phát biểu, ngay từ năm 1919, tại một cuộc họp của cơ quan đứng đầu chủ nghĩa phục quốc Do Thái:

“Mọi người đều thấy sự khó khăn trong vấn đề quan hệ giữa người Ả Rập và người Do Thái. Nhưng không phải ai cũng thấy rằng là không có một giải pháp nào cho vấn đề này. Không có giải pháp nào! Có một vực thẳm, và không gì có thể bắc cầu qua nó được… Tôi không biết người Ả Rập nào sẽ đồng ý rằng Palestine nên thuộc về người Do Thái… Chúng tôi, với tư cách là một quốc gia, muốn đất nước này là của chúng tôi; người Ả Rập, với tư cách là một quốc gia, muốn đất nước này là của họ.” (Trích dẫn trong B. Morris, Righteous Victims, trang 91)

Trong mắt các nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái, mỗi người định cư đặt chân đến Palestine đều đại diện cho một chiến sĩ trong cuộc chiến chinh phục vùng đất này. Mọi hành động của họ đều nhằm mục đích tạo ra các điều kiện cho phép họ đuổi phần lớn dân số Ả Rập ra khỏi Palestine và đưa nhà nước Israel ra đời.

“Nỗ lực giải quyết câu hỏi Do Thái thông qua việc người Do Thái di cư đến Palestine giờ đây có thể được coi là một sự chế nhạo bi thảm đối với người Do Thái”, Leon Trotsky viết vào tháng 7 năm 1940, ám chỉ đến sự lật mặt của chủ nghĩa đế quốc Anh, ban đầu ủng hộ người Do Thái nhập cư, nhưng giờ đây lại cố gắng ngăn chặn họ bằng vũ lực khi thấy điều đó không còn phù hợp với lợi ích của mình nữa.

Trotsky chỉ ra rằng bất kỳ giải pháp nào cho vấn đề Do Thái trên cơ sở một hệ thống tư bản thối nát sẽ trở thành một cái bẫy đẫm máu đối với hàng trăm nghìn người Do Thái. Trotsky không thể sống để chứng kiến ​​Chiến tranh thế giới sẽ kết thúc như thế nào và sự cân bằng lực lượng xuất hiện sau đó sẽ ảnh hưởng đến viễn cảnh của Chủ nghĩa phục quốc Do Thái như thế nào. Tuy nhiên, trong sự cân bằng lực lượng mới xuất hiện sau Chiến tranh, điều có vẻ không thể đã trở thành có thể, và sau đó nó đã trở thành hiện thực.

Israel được thành lập trên đống đổ nát của chế độ Ủy trị Anh. Tuy nhiên, nó được sinh ra trên mãnh đất thấm đẫm máu của người Palestine, buộc 750.000 người Palestine phải di dời khỏi vùng đất của họ. Nhà nước mới được thành lập với cái giá phải trả là phải dựa vào sự đàn áp và áp bức có hệ thống đối với người dân Palestine. Dự án của chủ nghĩa phục quốc Do Thái đã được tiết lộ là một xã hội không tưởng phản động đầy rẫy những hậu quả bi thảm. Việc thực hiện nó đã gây ra những vết thương vẫn còn tiếp túc rỉ máu hơn bảy thập kỷ sau đó.

Kể từ khi thành lập, lịch sử của Israel đã bị ngắt quãng bởi các cuộc chiến tranh. Điều này bắt đầu với Chiến tranh giành độc lập năm 1948-49 và Nakba (một thảm họa). Tiếp sau đó là Chiến tranh Suez năm 1956; Chiến tranh Sáu ngày năm 1967; Chiến tranh Yom Kippur năm 1973, cũng như ba cuộc xâm lược Lebanon, vào các năm 1978, 1982 và 2006, vô số vụ đánh bom và giao tranh trong cuộc chiến tiêu hao kéo dài hàng thập kỷ với Hezbollah ở Nam Lebanon, và nửa tá 'cuộc chiến' (chủ yếu là các chiến dịch ném bom hạng nặng từ xa) chống lại Hamas ở Gaza.

Lịch sử của Israel cũng được đặc trưng bởi vô số phong trào thể hiện sự phản kháng của người Palestine, bao gồm các phong trào nổi dậy của quần chúng (phong trào Intifada lần đầu tiên vào năm 1987-1992 và Intifada lần thứ hai vào năm 2000-2003) thuộc bộ phận mà Israel chưa bao giờ có thể chế ngự được tại các vùng Lãnh thổ bị chiếm đóng vào năm 1967.

Thay vì là 'thiên đường an toàn' cho người Do Thái, thực tế rõ ràng rằng 'miền đất hứa' hóa ra lại là một pháo đài bị bao vây xung quanh bởi những người mang đầy thù hằn và kẻ địch. Giai cấp thống trị Israel đã khéo léo khai thác những cuộc chiến này để tạo ra tâm lý bao vây ăn sâu vào phần lớn người Do Thái trong nước Israel và những người ủng hộ Israel trong cộng đồng người Do Thái hải ngoại.

Đế quốc Anh rút quân và chính sách khủng bố của phe Phục quốc Do Thái

Trong Thế chiến, hầu hết những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái và những người theo chủ nghĩa dân tộc Ả Rập đã hợp tác với quân đội Anh. Một lữ đoàn Do Thái gồm 23.000 người đã chiến đấu dưới sự chỉ huy của quân Đồng minh. Cũng có một đạo quân Palestine lên tới 9.000 người.

Năm 1944, diện tích đất mà những người theo chủ nghĩa Do Thái chiếm được ở Palestine vẫn không quá 6.6 phần trăm lãnh thổ của được Ủy trị bởi Anh. Tuy nhiên, Chủ nghĩa phục quốc Do Thái đã trỗi dậy mạnh mẽ hơn đáng kể sau chiến tranh. Trên thực tế, Cơ quan Do Thái đã thành hình, ít nhất là ở dạng phôi thai, một bán nhà nước, có không gian cho một nền kinh tế riêng, các cơ quan thể chế riêng và trên hết là quân đội riêng với hàng nghìn người được quân Đồng minh huấn luyện và vũ trang trong suốt cuộc chiến.

Sau khi thế chiến kết thúc, các lãnh đạo của người Do Thái đã thay đổi chiến thuật. Từ năm 1945 đến năm 1948, Haganah và Irgun Zwai Leumi (lực lượng dân quân vũ trang của phe cánh hữu theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái) đã hợp sức tấn công vào lực lượng chiếm đóng của Anh và người dân Ả Rập.

Vụ khủng bố nghiêm trọng nhất trong số các cuộc tấn công của chủ nghĩa phục quốc Do Thái đã giáng một đòn chí mạng vào sự cai trị của chính quyền Ủy trị Anh. Vào ngày 22 tháng 7 năm 1946, Irgun, dưới sự chỉ huy của Thủ tướng tương lai của Israel Menachem Begin, đã đặt đủ thuốc nổ để đánh bom cánh phía nam của Khách sạn King David ở Jerusalem, nơi đặt trụ sở hành chính dân sự của Ủy trị Anh. 91 người Anh, người Palestine và người Do Thái đã thiệt mạng trong vụ nổ và hàng chục người khác bị thương.

Xung đột leo thang đột ngột khiến chủ nghĩa đế quốc Anh không thể duy trì được tình hình. Nước Anh, mặc dù đã giành chiến thắng trong Thế chiến thứ hai, đã tiến tới hồi suy vong và tan rã. Do đó, vào tháng 4 năm 1947, Vương quốc Anh tuyên bố rút khỏi Palestine trong vòng một năm.

Điều này đã làm dấy lên cuộc tranh luận về địa vị của Palestine. Trọng tâm của quyền lực đế quốc đã có những chuyển dịch quyết định, theo hướng có lợi cho cường quốc đang trỗi dậy của thế giới, Hoa Kỳ. Họ đã diễn giải đúng vị thế của Anh như là một dấu hiệu của sự yếu kém của một đế chế quá đồ sộ và đang dần suy tàn; bắt đầu sử dụng xung đột Do Thái-Palestine như một cây gậy để giáng đòn vào ảnh hưởng của đồng minh cũ ở Trung Đông.

Nghị quyết 181 của Liên Hợp Quốc đã được thông qua vào ngày 29 tháng 11 năm 1947 do áp lực của Hoa Kỳ. Kế hoạch của Liên Hợp Quốc có thể được tóm lược là phân chia Palestine thành ba khu vực: một nhà nước Ả Rập (bao gồm một khu vực rộng 11.500 km vuông cho 804.000 người Palestine và 10.000 người Do Thái); một nhà nước Do Thái (14.000 km vuông cho 558.000 người Do Thái và 405.000 người Palestine); và một khu vực đặc biệt (Jerusalem) được đặt dưới sự kiểm soát quốc tế.

Kế hoạch này được che đậy bằng chủ nghĩa mơ mộng hão, cho rằng hai quốc gia sẽ phải tham gia Liên minh kinh tế Palestine và chia sẻ tiền tệ, tài nguyên và cơ sở hạ tầng (cảng, bưu điện, đường sắt, đường bộ), như thể chẳng hề có một cuộc chiến không giới hạn giữa người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái và người Palestine trong hơn hai thập kỷ trước đó.

Cuộc tấn công của Phe Phục quốc Do Thái

Với việc quân chiếm đóng Anh sắp rút lui, giới lãnh đạo phục quốc Do Thái nhận ra rằng mình có một cơ hội để lấp đầy khoảng trống quyền lực và áp đặt các điều kiện phân chia theo các điều khoản của riêng họ.

Vào cuối năm 1947, Haganah, Irgun và Stern Gang, giờ đây cùng chung tay trong một nỗ lực thống nhất, đã phát động một chiến dịch khủng bố với một loạt các cuộc tấn công phối hợp vào các ngôi làng của người Palestine khiến hàng chục thường dân thương vong. Các cuộc tấn công ngày càng dữ dội hơn trong những tháng đầu năm 1948 tấn công vào các thành phố Tannoura, Tireh, Saasa, Haifa, Hfar Husseinia, Sarafand, với nạn nhân là hàng trăm người Palestine.

Vào ngày 9 tháng 4, người dân làng Deir Yassin, gần Jerusalem, đã bị Irgun thảm sát. Hội Chữ thập đỏ phát hiện 254 người đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị tàn sát. Một số trong đó đã bị xé xác và ném xuống giếng. Begin đã công khai phô trương về vụ thảm sát.

Do chiến dịch khủng bố, được khuếch đại bởi sự đe dọa và tin đồn do những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái lan truyền, hàng trăm nghìn người Palestine không vũ trang đã phải chạy trốn, nhà cửa sau đó bị san phẳng để khiến cho họ không thể quay trở về. Người tị nạn Palestine tăng từ 60.000 lên 350.000 chỉ trong một tháng.

Chủ nghĩa khủng bố của chủ nghĩa phục quốc Do Thái sau đó tập trung vào các thành phố: vào ngày 22 tháng 4, Haifa đã bị tấn công vào giữa đêm, khiến 50 người chết và 200 người bị thương. 100 người khác đã thiệt mạng và hàng trăm người bị thương trong một cuộc tấn công vào một đoàn phụ nữ và trẻ em Palestine đang cố gắng đào thoát.

Giải thích cho sự tàn bạo như vậy là do tính toán đầy ích kỷ và phỉ báng của các lãnh đạo theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái là chiếm càng nhiều đất đai trên thực địa càng tốt và khiến người dân Palestine không thể hồi hương: để hù dọa, thậm chí là khủng bố, buộc người Palestine phải chạy trốn và san phẳng nhà cửa của họ. Điều này nhằm mục đích áp đặt sự phân chia Palestine có lợi hơn cho nhà nước Israel trong tương lai.

Nhà nước Israel được tuyên bố thành lập vào ngày 14 tháng 5 năm 1948. Tất cả lãnh đạo chính của chủ nghĩa phục quốc Do Thái đều tham gia vào các cuộc thảm sát và khủng bố quy mô lớn. Về mặt này, không có sự khác biệt giữa phe cánh tả và cánh hữu của chủ nghĩa phục quốc Do Thái.

Từ những sự vụ này, Moshe Dayan, Golda Meir, David Ben-Gurion, Menachem Begin và nhiều người khác, Ariel Sharon trẻ tuổi, Yitzhak Shamir và Yitzhak Rabin - những lãnh đạo chính của nhà nước Israel trong tương lai - đã học được từ kinh nghiệm quan trọng, về mức độ bạo lực càng cao trên thực địa thì ảnh hưởng ngoại giao trên bàn cờ chính trị quốc tế sẽ càng lớn. Bài học này, chúng sẽ tiếp thu và áp dụng một cách có hệ thống trong những thập kỷ tiếp theo.

Nakba

Ngay ngày 15 tháng 5, quân đội Ai Cập, Iraq, Syria, Liban và Transjordan đã tiến vào Palestine và đạt được một số thành công quân sự trong giai đoạn đầu. Một lệnh ngừng bắn đã được Liên hợp quốc đề xuất vào tháng 6 và được cả hai bên chấp nhận, nhưng điều này chỉ tạo thời gơ cho những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái tổ chức và tái vũ trang.

Cuộc phản công của quân đội phục quốc Do Thái sau ngày 8 tháng 7 đã đập tan sự kháng cự của các lực lượng Ả Rập, nguyên do tới từ sự phối hợp kém và thường đặt dưới sự chỉ huy của các sĩ quan Anh. Lãnh đạo của các chế độ Ả Rập chưa bao giờ từ bỏ những nỗ lực bí mật đạt được thỏa thuận với những chủ nghĩa phục quốc Do Thái để thúc đẩy lợi ích của riêng họ. Abdallah, Vua Transjordan, đã nhiều lần gặp Golda Meir và Moshe Dayan để đàm phán về việc sáp nhập Bờ Tây vào vương quốc của mình (điều này đã đạt được vào tháng 12 năm 1948), trong khi người Ai Cập chiếm đóng Dải Gaza.

Các lãnh đạo phục quốc Do Thái quyết tâm xóa bỏ mọi vật cản đường. Đặc phái viên của Liên hợp quốc, Bá tước Folke Bernadotte, đã ra lệnh cho Israel vào ngày 13 tháng 9 phải tiếp nhận lại những người tị nạn và xây dựng lại nhà cửa của họ. Bốn ngày sau, ông bị Stern Gang ám sát cùng với trợ lý của mình, Đại tá người Pháp - Serot.

Hiệp định đình chiến Rhodes năm 1949 được phê chuẩn, đánh dấu thất bại của người Ả Rập, kết thúc những gì người Israel coi là 'Cuộc chiến giành độc lập'. Một lần nữa, một lịch sử được viết nên bởi những kẻ chiến thắng đã phủ nhận và cố gắng xóa khỏi hồ sơ chính thức bất kỳ tài liệu tham khảo nào về các vụ thảm sát và hành động tàn bạo đã gây ra.

Đối với người Palestine, năm 1948 là năm của Nakba - có nghĩa là thảm họa, thất bại này sẽ đẩy quần chúng Palestine vào trạng thái phủ phục trong hơn hai mươi năm.

Câu hỏi tị nạn và 'người Ả Rập ở Israel'

Trong tổng số 750.000 người tị nạn Palestine, 39 phần trăm đã chạy trốn đến Bờ Tây; 10 phần trăm khác đã đến Jordan; 26 phần trăm chạy trốn đến Dải Gaza do Ai Cập chiếm đóng, nơi dân số tăng gấp đôi chỉ trong vài tuần; 14 phần trăm chạy trốn đến Lebanon từ miền bắc Palestine và 10 phần trăm vượt qua Cao nguyên Golan vào Syria. Chỉ một số ít (1 phần trăm trong tổng số) trốn thoát đến Ai Cập.

Hầu như tất cả những người tị nạn đều bị dồn vào những trại tập trung 'tạm thời' khổng lồ ở ngoại ô thành phố, trong điều kiện tuyệt đối cơ cực. Những người này và con cháu của họ sau này vẫn phải duy trì đời sống trong các điều kiện ấy cho đến tận nay, mặc dù dân số tị nạn đã tăng gấp tám lần.

Năm 1950, Cơ quan cứu trợ và việc làm của Liên hợp quốc dành do người tị nạn Palestine (UNRWA-The United Nations Relief and Works Agency) được thành lập. Kể từ đó, theo số liệu chính thức của UNRWA, tổng số người tị nạn đăng ký từ cuộc di dân năm 1948 và con cháu của họ - ba thế hệ sau - đã đạt đến con số đáng kinh ngạc là 5,9 triệu người, chưa bao gồm số người tị nạn trong Chiến tranh Sáu ngày năm 1967.

Nhiều thế hệ chỉ có thể sinh sống trong những trại tị nạn với các điều kiện cơ cực. Hầu hết những người tị nạn Palestine năm 1948 và thế hệ tiếp nối không có quyền công dân ở các quốc gia đang tiếp nhận họ, chứ đừng nói đến Israel, và phụ thuộc vào bất kỳ hỗ trợ nào được Cơ quan cứu trợ và việc làm của Liên hợp quốc cung cấp.

Vấn đề về quyền hồi hương của người tị nạn Palestine là cốt lõi của câu hỏi Palestine. Vấn đề này không thể giải quyết được dưới chủ nghĩa tư bản. Chỉ có một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Trung Đông và sự thành lập một Liên bang Xã hội chủ nghĩa của tất cả các dân tộc với quyền tự quyết cho các nhóm thiểu số mới có thể tạo điều kiện để chữa lành các vết thương chồng chất trong nhiều thập kỷ. Chỉ có như vậy mới cung cấp được cơ sở vật chất (nhà cửa, tài nguyên, cơ sở hạ tầng, v.v.) để dàn xếp được cách giải quyết có thể thỏa mãn mọi nỗi bất bình mà không tạo ra một hệ thống áp bức khủng khiếp khác.

Khoảng 150.000 người Palestine vẫn ở lại trên đất của mình trong 'Đường ranh giới xanh' (Green Line), vùng lãnh thổ do Israel chiếm đóng năm 1948. Ngày nay, người Palestine chiếm hơn 20 phần trăm dân số Israel. Nhà nước Israel đã tiến hành chiếm đoạt tài sản và đất đai của những người tị nạn, áp dụng các luật lệ phi thể thức và làm suy yếu một cách có hệ thống các quyền của những người Palestine còn ở lại bằng các luật như Luật Tài sản của Người vắng mặt năm 1950, Luật Ủy thác Đất đai năm 1953 và các luật khác. Năm 1952, người Israel gốc Ả Rập (người Palestine trong Đường ranh giới xanh) đã được cấp quyền công dân chính thức theo Luật Công dân năm 1952.

Tuy nhiên, cho đến năm 1966, người Palestine ở Israel vẫn phải sống dưới lệnh thiết quân luật và sống trong tình trạng phân biệt đối xử với những hạn chế rất lớn về khả năng di chuyển. Điều này cho phép chính quyền Israel tịch thu tài sản của cả những người Palestine phải chạy nạn trong nước nhưng do lệnh hạn chế di chuyển nên không thể trở về nơi ở cũ [16].

Chỉ trong vòng vài năm, 550 ngôi làng Palestine còn tồn tại sau thảm họa Nakba đã giảm xuống chỉ còn 100. Hơn 25 phần trăm nông dân Palestine đã chứng kiến ​​đất đai của họ bị chiếm đoạt và phải lánh nạn tại các ngôi làng "ma", bị Israel coi là bất hợp pháp và do đó thường xuyên bị quân đội giải tỏa và san phẳng chỉ để xây dựng lại ngay sau đó. Vị trí của họ đã bị xóa tên khỏi bản đồ.

Sau năm 1967, chính phủ Israel đã giảm bớt áp lực lên người dân Palestine, cố gắng hòa nhập nhiều hơn với người Ả Rập Israel, đồng thời củng cố các cuộc chinh phục lãnh thổ mới của Chiến tranh Sáu ngày: Vùng lãnh thổ bị chiếm đóng ở Bờ Tây, Dải Gaza, Cao nguyên Golan và Đông Jerusalem.

Sự củng cố chủ nghĩa tư bản Israel

Đối với người Palestine, Israel đại diện cho một chế độ thù địch, những kẻ chiếm đoạt đất đai của họ, chịu trách nhiệm cho tội diệt chủng và các đợt di dân hàng loạt. Thời kỳ Shoah [17] đã khiến hàng trăm nghìn người Do Thái không thể ở lại Châu Âu tiếp tục đổ về vùng đất Ả Rập (nơi sự chung sống ổn định kéo dài hàng thế kỷ đã bị phá vỡ bởi tác động của thảm họa Nakba) ​​​​khiến cho Israel ngày càng trở thành miền đất hứa cho người Do Thái tị nạn có thể gây dựng lại cuộc sống bị chiến tranh và đàn áp phá hủy.

Từ năm 1948 đến năm 1951, dân số Israel đã tăng gấp đôi (từ 650.000 lên hơn 1.400.000) và tiếp tục tăng nhanh trong những thập kỷ tiếp theo, nhờ vào làn sóng nhập cư Do Thái. Dân số Israel đạt hơn ba triệu vào năm 1978 và ngày nay đã vượt mốc chín triệu.

Tầng lớp tư sản và chủ nghĩa đế quốc theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái của Israel đã có thể lợi dụng một cách vô cùng tàn nhẫn quyết tâm của các bộ phận quần chúng Do Thái trong việc xây dựng nơi mà họ coi là 'thiên đường an toàn' chống lại sự đàn áp. Trong những năm 1950 và 1960, số lượng lớn người tị nạn Do Thái bị bóc lột như một lực lượng lao động giá rẻ luôn có sẵn và có thể bổ sung vô tận cho các ngành công nghiệp, và trong trường hợp cần thiết, họ có thể trở thành những binh lính để đảm bảo quyền tối cao của Israel đối với khu vực. Tuy nhiên, sự phát triển đáng chú ý của chủ nghĩa tư bản Israel không thể xảy ra nếu không có các khoản trợ cấp và đầu tư lớn của Hoa Kỳ (ước tính đạt 140 tỷ đô la vào giữa những năm 1990, kể từ năm 1949).

Mặc dù có số lượng nhập cư đáng kể, theo thời gian, tỷ lệ người Do Thái Israel sinh ra ở Israel ngày càng tăng: 27,7 phần trăm vào năm 1949, 44 phần trăm vào năm 1968, 57 phần trăm vào năm 1981. Ngày nay, người Do Thái sinh ra ở Israel chiếm 75 phần trăm. Tiếng Hebrew, được Eliezer Ben-Yehuda tạo ra vào cuối thế kỷ 19, ngày càng bén rễ trong các thế hệ trẻ, dần thay thế tiếng Yiddish của người Ashkenazi và tiếng Ladino của người Sephardim. Nhiều người Israel thế hệ thứ hai đã bỏ ngôn ngữ quốc gia nguồn gốc của mình.

Tất nhiên, quần chúng Do Thái không bị ảnh hưởng bởi tuyên truyền dân tộc chủ nghĩa của các chế độ Ả Rập, vốn mô tả họ một cách tùy tiện là kẻ thù cần phải bị tiêu diệt. Mối đe dọa quân sự liên tục do các chế độ Ả Rập láng giềng gây ra và các chiến thuật khủng bố cá nhân do các tổ chức dân tộc chủ nghĩa Palestine áp dụng kể từ giữa những năm 1960 đã đẩy phần lớn người Israel vào vòng tay của nhà nước phục quốc Do Thái. Điều này đã giúp chủ nghĩa phục quốc Do Thái định hình ý thức dân tộc Israel, dựa trên nỗi lo sợ rằng người Ả Rập muốn tiêu diệt họ.

Sự bùng nổ kinh tế của những năm 1950-1970, được khuếch đại bởi viện trợ của Hoa Kỳ, dẫn đến việc công nhân Israel (bao gồm cả một số nhóm thiểu số Ả Rập-Israel) có thể đạt được mức sống cao hơn đáng kể so với quần chúng Ả Rập ở các nước láng giềng. Sự phát triển kinh tế trong thời kỳ này đã làm cho công nhân Israel gia tăng sự ủng hộ với chính quyền của mình, nhất là trong điều kiện liên tục có các mối đe dọa đến từ bên ngoài.

Trong số những người Palestine thiểu số ở Israel, mặc dù phải chịu sự phân biệt đối xử nặng nề, nhiều người cũng nhận thức được bối cảnh khốn cùng ảm đạm do các chế độ Ả Rập độc tài và phản động gây ra.

Chế độ quân chủ Saudi, Kuwait, Qatar, UAE và các quốc gia vùng Vịnh giàu dầu mỏ khác, trong khi tự nhận là 'bạn' của người Palestine và tài trợ cho Tổ chức giải phóng Palestine (PLO-Palestine Liberation Organization), đã dựa vào hàng trăm nghìn người Palestine và những người lao động nhập cư nghèo khác để làm việc trong điều kiện bán nô lệ. Tất nhiên, các chế độ phản động này đã cẩn trọng khi không cấp cho người lao động nhập cư các quyền chính trị hay quyền công đoàn, chứ chưa nói đến quyền công dân, và bóc lột họ một cách tàn nhẫn.

Thực trạng này kéo dài cho đến đầu những năm 1990, khi tác động của cuộc Chiến tranh vùng Vịnh lần đầu tiên đã khuyến nghị các chế độ này loại bỏ những người lao động Palestine và hướng tới Ấn Độ, Pakistan và Nepal tìm kiếm nguồn lao động giá rẻ chính thay thế.

Mâu thuẫn giai cấp trong nội bộ Israel

Mặc dù tồn tại những nhân tố cơ bản để đảm bảo một cơ sở ủng hộ nhất định cho chủ nghĩa tư bản Israel, đặc biệt là khi bị đe dọa từ xung quanh, nhưng trên thực tế, xã hội Israel đã và vẫn đang bị phân cực sâu sắc và không hề đồng nhất.

Năm 1974, các cuộc biểu tình bạo lực vào đầu những năm 1970 của 'Đảng Báo đen' Israel (Israeli ‘Black Panthers’) đã buộc chính phủ phải mở một cuộc điều tra. Các cuộc biểu tình này đã bị nhà nước Zionist đàn áp dã man. Cuộc điều tra này đã xem xét tình trạng của người Do Thái Sephardic (chủ yếu định cư tại Israel sau năm 1948 đến từ Bắc Phi, Iraq, Yemen và phần còn lại của đế chế Ottoman cũ), chiếm một nửa dân số Do Thái của Israel.

Báo cáo hé lộ bức màn về sự tồn tại của một 'Israel thứ hai' nghèo đói và bị bóc lột. Có 92% trẻ em có vấn đề về suy dinh dưỡng và 90% số tù nhân Do Thái có nguồn gốc Sephardic; tỷ lệ được giáo dục ở bậc trung học của họ chỉ là 17 phần trăm trong khi tỷ lệ này đối với người Do Thái gốc Âu (Ashkenazis) là 41 phần trăm; trong các trường đại học, thanh niên Sephardic chiếm 20 phần trăm tổng số, trái ngược với 78 phần trăm người Ashkenazi.

Thành phần xã hội Sephardic chiếm 62 phần trăm giai cấp công nhân (so với 39 phần trăm người Ashkenazi) và chỉ có 5 phần trăm là tư sản (so với 14 phần trăm người Ashkenazi). Điều này, cùng với nhiều số liệu thống kê khác, cho thấy sự chia rẽ sâu sắc trong chính Israel. Cuộc nổi loạn cấp tiến của thanh niên Sephardic ở Israel chống lại sự áp bức và phân biệt đối xử không phải ngẫu nhiên được truyền cảm hứng từ cuộc đấu tranh của Đảng Báo (The Black Panthers) đen ở Hoa Kỳ.

Chủ nghĩa tư bản Israel ngày càng trở nên bất bình đẳng trong những thập kỷ qua. Năm 1992, 10% dân số giàu nhất đã chiếm 27% thu nhập quốc dân, trong khi 10% nghèo nhất chỉ nắm giữ 2,8%. (CIA, The World Factbook 1999).

Bất bình đẳng đã tăng rất nhiều kể từ thời điểm đó. Theo Báo cáo Bất bình đẳng Thế giới năm 2022 do Phòng nghiên cứu Bất bình đẳng Thế giới công bố:

“Israel là một trong những quốc gia, thuộc nhóm nước có thu nhập cao, bất bình đẳng nhất. 50% dân số nghèo nhất kiếm được trung bình 11.200 € PPP tương đương 57.900 NIS (Israeli New Shekel), trong khi 10% giàu nhất kiếm được gấp 19 lần (211.900 € PPP, 1.096.300 NIS). Do đó, mức độ bất bình đẳng tương tự như ở Hoa Kỳ, với 50% dân số nghèo nhất kiếm được 13% tổng thu nhập quốc dân, trong khi 10% giàu nhất chiếm 49%.”

Sức mạnh kinh tế và quân sự của Israel được xây dựng dựa trên sự bóc lột giai cấp công nhân Israel và Palestine với mức độ không thua kém bất kỳ quốc gia tư bản nào khác. Trên thực tế, những con số này cho thấy hậu quả của việc giai cấp công nhân bị chia rẽ một cách 'có hiệu quả' như vậy.

Nhà nước Israel được thành lập dựa trên sự áp bức và phân biệt đối xử toàn thể với người Palestine, nhưng điều này suy cho cùng cũng chỉ có nghĩa là cả người Palestine và công nhân Israel bình thường đều bị bóc lột liên tục, trong khi các nhà tư bản Israel lại tích lũy được khối tài sản khổng lồ.

Bước ngoặt của Chiến tranh Sáu ngày (Six Day War)

Năm 1967 là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Trung Đông.Khi ấy, phần lớn người tị nạn Palestine ở các quốc gia Ả Rập khác nhau đã nuôi dưỡng hy vọng rằng sự can thiệp của quân đội Ai Cập, Syria và Jordan một ngày nào đó sẽ đảm bảo các quyền của người Palestine được trao trả lại.

Vào rạng sáng ngày 5 tháng 6, sau một tháng giao tranh và căng thẳng, Không quân Israel đã tung ra một cuộc công kích chớp nhoáng vào các sân bay của Ai Cập và Jordan, phá hủy hơn 90 phần trăm máy bay quân sự của cả hai nước này trước khi chúng kịp cất cánh. Cùng ngày, Lực lượng phòng vệ Israel (IDF-The Israel Defense Forces) đã xâm lược Bờ Tây và Dải Gaza và trong vài ngày giao tranh ác liệt, đã đánh bại Quân đoàn Ả Rập Jordan và quân đội Ai Cập đồn trú tại Gaza.

Vào ngày 6 tháng 6, họ đã chinh phục Dải Gaza và ngày hôm sau chiếm được Jerusalem, hoàn tất việc chiếm đóng Bờ Tây. Vào ngày 10 tháng 6, trong khi các nước khối Ả Rập vẫn còn đang bàng hoàng, Israel không chỉ thống nhất toàn bộ Lãnh thổ Palestine do Anh quản lý dưới sự cai trị của mình mà còn chiếm đóng Cao nguyên Golan của Syria và bán đảo Sinai của Ai Cập, gây ra một thất bại to lớn cho kẻ thù Ả Rập của mình, tạo ra làn sóng tị nạn mới gồm 300.000 người Palestine.

Tuy nhiên, lần này, sau thảm bại trong Chiến tranh Sáu ngày, người dân Palestine đã không còn phản ứng như sau sự kiện Nakba. Đối với người dân Palestine, thay vì tâm lý bạc nhược của những người trốn chạy, họ tạo ra cho mình một ý chí phản kháng mang đầy nỗi phẫn nộ. Thất bại của người Ả Rập đã có tác động (mà các chiến lược gia phục quốc Do Thái hoàn toàn không lường trước được) là loại bỏ trong đầu óc của những người bị áp bức mọi ảo tưởng còn sót lại cho rằng một sự can thiệp từ bên ngoài sẽ 'làm mọi thứ trở nên đúng đắn'.

Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO-The Palestine Liberation Organisation) đã được thành lập vào năm 1964 theo quyết định của Hội nghị thượng đỉnh Ả Rập. Trong những năm đầu tiên, tổ chức này không có gì hơn, chỉ là một phần phụ thuộc của các chế độ Ả Rập này. Nó đã gặp phải sự phản đối ngày càng tăng từ các lực lượng xuất phát từ Phong trào Kháng chiến Palestine, như Fatah - tổ chức du kích của Yasser Arafat, và những người, giống như Arafat, đã có cơ hội trải nghiệm nhà tù của các chế độ 'thân thiện' này vào đầu những năm 1960. Ở một chiều hướng khác, năm 1967, sự thành lập Mặt trận Nhân dân Giải phóng Palestine (PFLP-Popular Front for the Liberation of Palestine) của George Habash phản ánh sự cực đoan hóa diễn ra tiềm ẩn trong cuộc đấu tranh của người Palestine.

Chủ nghĩa tư sản dân tộc Ả Rập đã bị phơi bày hoàn toàn và mất uy tín sau thất bại thảm hại trong Chiến tranh Sáu ngày. Trong số những người Palestine, những người đột nhiên thấy mình nằm dưới ách thống trị trực tiếp của Israel, và trong số tất cả những người chen chúc trong các trại tị nạn ở Jordan, Syria và Lebanon, đã phát triển một nền tảng mạnh mẽ chỉ trích chủ nghĩa dân tộc Ả Rập và các chế độ Ả Rập. Điều này đã tạo ra động lực sục sôi cho Phong trào Kháng chiến Palestine (đặc biệt là Fatah và Mặt trận Nhân dân Giải phóng Palestine mới thành lập), những người đã sớm giành được nền tảng ủng hộ từ quần chúng trong các trại tị nạn.

Vào ngày 21 tháng 3 năm 1968, quân đội Israel lên kế hoạch tấn công trụ sở của Phong trào Kháng chiến tại làng Karameh ở Jordan. Các chiến binh Fatah, do đã được cảnh báo về cuộc tấn công, đã giữ vững trận địa. Lực lượng phòng về Israel không ngờ lại phải đối mặt mức độ kháng cự như vậy và buộc phải rút lui. 28 binh lính Israel đã thiệt mạng và 69 bị thương.

Hơn một trăm chiến binh Palestine đã thiệt mạng, nhưng sự kiện này đã khơi dậy một làn dâng trào trên khắp các quốc gia Ả Rập vì cuộc kháng chiến của Palestine đã thành công ở nơi mà quân đội của các quốc gia Ả Rập luôn thất bại đã có lần đầu tiên đánh bại quân đội Israel. Điều này đã đưa Fatah và Arafat lên vị trí cao nhất của Tổ chức giải phóng Palestine, khi đó vẫn đang bị bao vây bởi kẻ địch vào tháng 2 năm 1969.

Phong trào Kháng chiến Palestine đã làm suy yếu các chế độ Ả Rập

Những người tị nạn Palestine bị đẩy vào cảnh khốn cùng trong các trại tị nạn quá tải. Số lượng của họ lên tới một triệu rưỡi vào năm 1968. Người tị nạn bị các nhà tư bản của nhiều quốc gia khác nhau sử dụng làm lao động giá rẻ, khiến họ phải chịu những điều kiện nhục nhã. Nhưng sự trỗi dậy của Phong trào Kháng chiến vào cuối những năm 1960 đã khôi phục lại lòng tự tôn của người Palestine, biến các trại tị nạn thành cứ địa cho các tổ chức của Phong trào Kháng chiến.

Điều này làm cho các trại tị nạn và các quốc gia chứa chấp chúng phải chịu sự trả thù dữ dội của Israel. Xung đột liên tục giữa Phong trào Kháng chiến và chính phủ các quốc gia sở tại trở nên trầm trọng hơn do sự lan truyền của các lý tưởng cách mạng trong cộng đồng người Palestine, nhiều người trong số họ coi cuộc cách mạng Palestine là một phần của cuộc cách mạng chung của người Ả Rập mang tính xã hội chủ nghĩa. Những lập trường đấu tranh này, được củng cố bởi uy tín ngày càng tăng của Phong trào Kháng chiến Palestine, đã gây được tiếng vang với quần chúng Lebanon và Jordan.

Cuộc khủng hoảng đầu tiên bùng nổ vào năm 1969 tại Lebanon, quốc gia vốn đã bị chia rẽ sâu sắc bởi căng thẳng giữa nhóm thiểu số Thiên chúa giáo-Maronite. Xung đột giữa lực lượng kháng chiến và chính phủ Lebanon đã trở nên trầm trọng hơn vào mùa thu năm 1969, sau đó đã chuyển biến thành nhiều ngày giao tranh ác liệt mà quân đội Lebanon rơi vào thế thua cuộc. Thỏa thuận Cairo đã tạm thời chấm dứt cuộc đối đầu.

Tháng Chín Đen (Black September)

Một trường hợp tương tự đã diễn ra trong một thời gian ở Jordan. Sự phản đối ngày càng gay gắt đối với quan hệ chặt chẽ giữa chế độ quân chủ Hashemite của Hussein và chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ, kết hợp với các điều kiện áp bức mà phần lớn dân số phải đối mặt, đã cộng hưởng với triển vọng về một cuộc cách mạng của người Palestine.

Tổ chức giải phóng Palestine đã cố gắng né tránh một cuộc đụng độ trực diện với Quốc vương Hussein, nhưng sự trỗi dậy mang tính cách mạng của quần chúng Jordan đã lấn át mọi trở ngại. Phong trào quần chúng đối đầu với chế độ Jordan không có sự lãnh đạo thực sự do Tổ chức giải phóng Palestine do dự không tham gia.

Bắt đầu từ mùa hè năm 1970, một loạt các cuộc đụng độ giữa các chiến binh kháng chiến Palestine và quân đội đã leo thang. Danh sách dài gồm vụ cướp máy bay chở khách (PanAm, Swissair và British Airways, không có thương vong dân sự) của Mặt trận Nhân dân Giải phóng Palestine là cái cớ mà Hussein tìm cách biện minh cho sự đàn áp trước dư luận quốc tế.

Lực lượng kháng chiến Palestine đã giành thế thượng phong và chiếm được một phần lớn thủ đô Amman chỉ trong vài tuần. Hussein sau đó đã bổ nhiệm một chính quyền quân sự vào ngày 16 tháng 9, và mở một cuộc tấn công vào các trại tị nạn Palestine vào rạng sáng ngày hôm sau.

Các đơn vị quân đội Bedouin (ít bị ảnh hưởng bởi lý tưởng cách mạng) dưới sự chỉ huy của Tướng al-Majali đã bắn phá các trại tị nạn bằng đạn phốt pho và bom napalm, cùng lúc triển khai xe tăng chống lại các khu phố lao động ở Amman. Mặc dù bất cân xứng về lực lượng quân sự, nhưng sự kháng cự vẫn diễn ra dữ dội đến mức giao tranh kéo dài thêm gần hai tuần nữa, buộc Hussein phải tìm kiếm một thỏa thuận vào ngày 27 tháng 9 năm 1970. Lực lượng kháng chiến Palestine đã chấp nhận rời khỏi Jordan và chuyển đến Lebanon.

Con số chính xác về nạn nhân của 'Tháng Chín Đen' ở Jordan chưa bao giờ được biết đến. Các nguồn tin của Palestine nói rằng có 20.000 người thiệt mạng, các nguồn tin khác là 5-10.000 người, chủ yếu là dân thường.

Thái độ của các nhà lãnh đạo Tổ chức giải phóng Palestine và Arafat đã bị chỉ trích gay gắt bởi một bộ phận rất lớn của phong trào cách mạng Palestine, những người đã phải chịu cảnh tan tác sau thoát khỏi các sự kiện ở Jordan. Sự thất vọng và tức giận với vụ thảm sát do Hussein gây ra, cũng như với sự im lặng của các quốc gia Ả Rập đã tạo ra cơn thịnh nộ lan tràn trong cộng đồng Palestine, tạo điều kiện cho các tổ chức khủng bố cực đoan phát triển, chẳng hạn như việc thành lập nhóm khủng bố Tháng Chín Đen.

Bước ngoặt ngoại giao của Tổ chức giải phóng Palestine

Thất bại của Jordan không làm khắc phục được những hạn chế cơ bản của phong trào kháng chiến Palestine. Quan niệm về một cuộc đấu tranh giải phóng 'được tác động từ bên ngoài' đã làm cho vai trò quần chúng Palestine ở các Lãnh thổ bị Chiếm đóng trở nên thụ động. Cam kết của Tổ chức giải phóng Palestine đối với chính sách 'không can thiệp' vào công việc nội bộ của các quốc gia Ả Rập đã được củng cố một cách nghịch lý.

Việc giới hạn cuộc đấu tranh trong khuôn khổ hoàn toàn mang tính dân tộc, bỏ qua lựa chọn về việc xây dựng xã hội thay thế nếu Palestine được giải phóng, đã cho phép Tổ chức giải phóng Palestine duy trì sự thống nhất giả tạo với các chế độ Ả Rập nhưng không bao giờ có thể bảo vệ nó khỏi sự phản bội của chính các chế độ đó. Bất cứ khi nào quần chúng Ả Rập cố gắng giải phóng bản thân khỏi xiềng xích của mình và cuộc đấu tranh của người Palestine đụng chạm vào lợi ích cơ bản của những kẻ áp bức, họ đều bị phản bội.

Dưới sự lãnh đạo của Arafat, Tổ chức giải phóng Palestine cuối cùng đã giành được sự ủng hộ của quần chúng Palestine. Tuy nhiên, trước áp lực ngoại giao quốc tế, đặc biệt là từ các chế độ Ả Rập, Arafat đã thay đổi lập trường 180 độ: ý tưởng rằng cuộc đấu tranh giải phóng phải do chính người dân Palestine thực hiện đã bị đoạn tuyệt để ủng hộ quan niệm về cuộc đấu tranh vũ trang như một cách để "gây áp lực" ngoại giao quốc tế.

Vào ngày 6 tháng 10 năm 1973, vào đêm trước lễ hội Yom Kippur của người Do Thái, Ai Cập và Syria đã tấn công Israel. Bộ máy phòng vệ của Israel đã bị bất ngờ và phải chịu một đòn nặng nề. Lực lượng kháng chiến Palestine đã tham gia vào cuộc chiến ở các Lãnh thổ bị chiếm đóng. Các đơn vị Jordan, Iraq và Morocco cùng một chi đội Tunisia tượng trưng cũng tham gia vào cuộc chiến. Những thành công ban đầu của các lực lượng Ả Rập đã cứu chuộc lại phần nào thất bại nhục nhã năm 1967 trong mắt quần chúng Ả Rập.

Chiến tranh Yom Kippur đã tác động sâu sắc đến xã hội Israel khi nó đã đập tan niềm tin vào sự bất khả chiến bại của quân đội Israel. Tuy nhiên, Lực lượng phòng vệ Israel cuối cùng đã tổ chức lại và phản công hiệu quả. Vào ngày 22 tháng 10, một lệnh ngừng bắn đã đạt được tại thời điểm mà Israel đã giành lại thế thượng phong

'Bước ngoặt ngoại giao' đã được củng cố. Tổ chức giải phóng Palestine đã được Hội nghị thượng đỉnh Ả Rập công nhận là 'đại diện hợp pháp và duy nhất của người dân Palestine' vào ngày 27 tháng 11 năm 1973.

Các sửa đổi đối với Hiến chương quốc gia Palestine vào tháng 5 năm 1974 lần đầu tiên đưa ra viễn cảnh giải phóng một phần Palestine (và sự ngầm công nhận của Israel).

Arafat được mời đến phát biểu tại Liên hợp quốc vào ngày 13 tháng 11 năm 1974. Trong bài diễn văn nổi tiếng của mình, ông lên án chủ nghĩa phục quốc Do Thái, nhưng nói rằng, "Hôm nay tôi đến đây mang theo một cành ô liu và một khẩu súng của một chiến binh chiến đấu vì tự do. Đừng để cành ô liu rơi khỏi tay tôi."

Sự quay ngoắn của Arafat, đã cho phép các chế độ Ả Rập phản bội lại giành được thế chủ động, một đường lối đường lối mới được lựa chọn ngay cả khi phải trả giá bằng việc làm suy yếu nguồn sức mạnh thực sự duy nhất của Kháng chiến, gốc rễ của phong trào trong quần chúng Palestine.

Cách mạng và phản cách mạng ở Lebanon

Bất chấp những gì diễn ra đối với Jordan và các cuộc đụng độ năm 1969, phong trào kháng chiến Palestine ở Lebanon ngày càng tự tin vào sức mạnh mở rộng đến mức chưa từng có của mình. Lebanon bị chia rẽ sâu sắc giữa giai cấp thống trị Thiên chúa giáo-Maronite do Pháp dựng lên và các phe phái tư sản và tiểu tư sản Hồi giáo khác nhau.

Giống như ở Jordan, uy thế của phong trào kháng chiến Palestine phát triển song hành với sự trỗi dậy cảm tình cách mạng trong quần chúng Lebanon. Người Palestine trong các trại tị nạn đã trở thành một phần không thể thiếu của giai cấp công nhân Lebanon.

Các nhà tư bản Lebanon đã bóc lột sức lao động của họ trong nhiều năm, di dời các trại tị nạn ở gần các thành phố và đã cố gắng sử dụng những người tị nạn để phá hoại các tổ chức mạnh mẽ của giai cấp công nhân Lebanon. Tuy nhiên, tính toán đầy hẹp hòi và này đã sớm dẫn đến sự gắn kết giữa phong trào giải phóng Palestine với khát vọng cách mạng của công nhân Lebanon.

Việc di dời cưỡng bức hàng nghìn chiến binh Tổ chức giải phóng Palestine khỏi Jordan tất yếu đã biến Lebanon thành cứ điểm chính của họ. Toàn bộ các khu phố của Beirut nằm dưới sự kiểm soát của Tổ chức giải phóng Palestine, nổi lên như một thế lực thay thế cho quyền lực chính quyền, trong khi vẫn nhận được sự ủng hộ rộng rãi trong quần chúng người dân Lebanon. Nhờ vào các nguồn tài trợ được huy động để hỗ trợ cho Kháng chiến, nhiều thể chế xã hội, trường học và bệnh viện đã phát triển mạnh mẽ xung quanh Tổ chức giải phóng Palestine, thường tạo ra sự hỗ trợ chất lượng cao hơn so với những gì nhà nước Lebanon chu cấp. Toàn bộ người dân đều có thể tiếp cận tất cả các cơ quan này.

Vào giữa những năm 1970, thế cân bằng mỏng manh đã bị phá vỡ. Một 'cuộc nội chiến' đã được phát động bởi giai cấp thống trị Thiên chúa giáo-Maronite, quân đội và lực lượng dân quân Phalange Thiên chúa giáo [18] cùng các đồng minh. Trên thực tế, đây là một cuộc chiến tranh giai cấp phản cách mạng, nhằm tái khẳng định quyền kiểm soát của chúng đối với xã hội. Quần chúng Lebanon và các tổ chức của họ, chẳng hạn như Phong trào Quốc gia Lebanon do Kamal Jumblatt lãnh đạo, cũng như lực lượng kháng chiến Palestine, đã bị đè bẹp. Israel đã can thiệp bằng các cuộc tấn công bất ngờ thường xuyên vào miền nam Lebanon để tấn công quân Kháng chiến.

Vào ngày 26 tháng 1 năm 1975, các chiến binh Palestine đã can thiệp để bảo vệ cuộc đình công của ngư dân Sidon chống lại nỗ lực đàn áp của quân đội. Sự kháng cự của người Palestine đã buộc lực lượng an ninh Lebanon phải rút lui, bỏ lại mười người thiệt mạng trên chiến trường.

Đảng Christian Phalange (tên gọi khác của đảng Kataeb) đã sử dụng các biện pháp mạnh tay chống lại Tổ chức giải phóng Palestine. Vào tháng 2, một nghị sĩ Lebanon ủng hộ Palestine, Maarouf Saad, đã bị bắn chết, được cho là do Quân đội Lebanon thực hiện. Vào ngày 13 tháng 4, một nỗ lực ám sát thủ lĩnh Phalangist, Pierre Gemayel, đã dẫn đến màn trả đũa ngay lập tức của Phalangist, những kẻ này đã chặn một chiếc xe buýt đang hướng đến trại tị nạn Tall el-Zaatar và thảm sát tất cả 27 hành khách một cách tàn nhẫn, gây ra giao tranh trên khắp Beirut.

Trong suốt năm 1975, động thái của Tổ chức giải phóng Palestine là chỉ giới hạn ở việc hỗ trợ hậu cần và vũ khí cho lực lượng dân quân của phe cánh tả Lebanon. Chiến thuật 'tọa sơn quan hổ đấu' của Tổ chức giải phóng Palestine chỉ làm kéo dài cuộc xung đột. Nhưng quyết định tiến hành bao vây các trại tị nạn Dbayeh và Tall el-Zaatar của Phalange đã buộc các nhóm kháng chiến vũ trang Palestine phải tham gia cuộc xung đột bằng toàn bộ lực lượng của mình. Những kẻ Phalang phản cách mạng đã bị truy đuổi vào núi cho đến khi họ ở bờ vực thất bại. Vào thời điểm này, một sự hoán đảo tình thế ngoạn mục đã diễn ra.

Khi có thông cáo về khả năng thành lập một chính phủ cách mạng phe cánh tả Lebanon, mặt trận Ả Rập của 'những người bạn' đấu tranh cùng Palestine đã sụp đổ. Ai Cập và Jordan đã lo sợ trước viễn cảnh cuộc cách mạng lan rộng khắp Trung Đông. Tuy nhiên, sự phản bội công khai đã đến từ nơi mà người ta ít mong đợi nhất. Người đi đầu trong công cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, Hafez al-Assad, chủ tịch đảng Baath của Syria, đã thực hiện một bước ngoặt ngoạn mục, cử quân đội Syria đến hỗ trợ những kẻ Phalange vào tháng 6 năm 1976.

Sự can thiệp của Syria đã làm thay đổi cục diện một cách tàn bạo. Phe Kháng chiến phải rút lui về các thành phố với tổn thất nặng nề, trong khi phe Phalange, được quân đội Syria bảo vệ, lại bao vây trại Tall el-Zaatar. Sau 52 ngày, vào ngày 12 tháng 8, Tall el-Zaatar đầu hàng và phe Phalange cùng người Syria đã trả thù bằng cách thảm sát ba nghìn người Palestine trong khi họ đang sơ tán khỏi trại.

Syria, chế độ 'tiến bộ' nhất trong số tất cả các chế độ Ả Rập, khi bị đe dọa, dù chỉ gián tiếp, bởi sự phát triển của cách mạng, đã không ngần ngại đứng về phía phản động nhất của phe phản cách mạng tư sản chống lại chính phe Kháng chiến Palestine có trụ sở tại Damascus và nhận tài trợ từ chính quyền Syria trong nhiều năm.

Các phe nhóm cầm quyền của Liên đoàn Ả Rập đứng ngoài cuộc quan sát mà không có bất cứ hành động nào cả, dù là nhỏ nhất. Sau 19 tháng chiến tranh với 60.000 người thiệt mạng, Lebanon đã bị chia thành nhiều khu vực cho các bên tranh chấp khác nhau củng cố vị thế của mình trong một tờ thỏa thuận ngừng bắn vũ trang mỏng manh. Bất chấp sự phản bội của Assad, ban lãnh đạo Tổ chức giải phóng Palestine đã dành thời gian cho các cuộc đàm phán nhục nhã để chắp vá sự rạn nứt và tái lập 'mặt trận Ả Rập'.

Israel xâm lược Lebanon

Đối với Israel, sự hiện diện của các chiến binh Palestine trên đất Lebanon là điều không thể dung thứ được. Vào ngày 14 tháng 3 năm 1978, Israel đã xâm lược Nam Lebanon và chỉ trong vài ngày đã đánh bại được lực lượng kháng chiến Palestine (họ đã bị quân đội Lebanon bỏ rơi).

Tuy nhiên, Thủ tướng lúc đó là Begin đã quyết định rút quân dưới áp lực của Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter, người quyết định ủng hộ các cuộc đàm phán bí mật song phương giữa Sadat và Begin. Các cuộc đàm phán này nhằm mục đích bình thường hóa quan hệ giữa Israel và Ai Cập. Một thỏa thuận đã được chính thức phê chuẩn tại Trại David [19] vào ngày 18 tháng 9 năm 1978.

Dẫu vậy, Israel chưa muốn dừng lại ở đó. Vào ngày 6 tháng 6 năm 1982, Lực lượng phòng vệ Israel đã phát động một cuộc xâm lược quy mô lớn thứ hai vào Lebanon dưới sự chỉ huy của Ariel Sharon, bộ trưởng quốc phòng trong chính phủ Begin. Cuộc xâm lược đã biến thành một cuộc tàn sát đẫm máu. Chỉ trong vài giờ, mưa bom bão đạn từ Không quân Israel đã rải xuống các thành phố và trại tị nạn, trong khi nhiều hàng dài xe tăng tiến về Beirut, để lại đằng sau vết xích sự chết chóc và tàn phá: 14.000 thương vong chỉ trong hai tuần đầu tiên.

Lực lượng Phòng vệ Israel đã bao vây Tây Beirut trong vòng vây chết chóc kéo dài 78 ngày, trong thời gian đó, mọi nguồn viện trợ đều bị phong tỏa và thành phố bị bắn phá không ngừng. 7.000 thường dân Lebanon thiệt mạng và một số lượng thương vong không xác định của người Palestine (mà số liệu thống kê thực tế sẽ không bao giờ được đưa ra) là không đủ để phá vỡ vòng vây.

Sự bế tắc này đã cho phép ngoại giao đế quốc vào cuộc và đàm phán để di tản hoàn toàn lực lượng kháng chiến Palestine khỏi Lebanon. Vào cuối tháng 8 năm 1982, hơn 10.000 chiến binh Palestine đã di tản khỏi Beirut dưới sự giám sát của lực lượng Pháp-Ý-Mỹ, nhưng cái giá phải trả để bảo vệ các cấu trúc của Tổ chức giải phóng Palestine là cực kỳ cao.

Dân số Lebanon và hàng chục ngàn người Palestine tiếp tục chen chúc trong các trại tị nạn đã bị bỏ mặc cho 'lòng nhân từ' của những kẻ Phalange, lực lượng dân quân Shiite thân Syria của Amal, quân đội Syria và quân đội Israel, với đảm bảo duy nhất là một hiệp ước được viết trên cát mà không ai quan tâm đến việc tôn trọng.

Sự trả thù của Israel diễn ra ngay lập tức và rất khủng khiếp. Từ ngày 16 đến ngày 18 tháng 9, ngay sau khi phái đoàn 'hòa bình' quốc tế rời khỏi Lebanon (khi giải giáp và sơ tán những chiến binh Palestine còn lại xong xuôi), những kẻ Phalange Lebanon, được bảo vệ bởi Lực lượng phòng về Israel, đã thảm sát 3.000 người tị nạn Palestine không có khả năng tự vệ bằng cách cướp phá các trại tị nạn Sabra và Shatila ở Beirut trong 40 giờ.

Ariel Sharon được cho là đã quan sát hoạt động này từ trên đỉnh một tòa nhà cách bức tường của trại Shatila 200 mét. Giống như những gì người Syria đã làm sáu năm trước tại Tell al-Zaatar, quân đội Israel đơn thuần chỉ cung cấp hỗ trợ hậu cần cho phe Phalange, thắp sáng khu vực bằng pháo sáng, chặn mọi đường thoát khỏi trại, cung cấp lương thực và yểm trợ phe Phalange đang tiến hành vụ thảm sát.

Tác động của vụ thảm sát tại Sabra và Shatila đã gây chấn động toàn xã hội, thậm chí lan đến Israel. Vào ngày 25 tháng 9 năm 1982, một cuộc biểu tình lớn với 400.000 người đã tràn xuống đường phố Tel Aviv để phản đối vai trò của Lực lượng phòng vệ Israel và Sharon trong vụ thảm sát. Một cuộc điều tra chính thức đã được thiết lập để xoa dịu phong trào và che đậy vai trò của Lực lượng phòng về Israel, nhưng ngay cả các báo cáo điều tra như vậy cũng không thể che giấu được trách nhiệm cá nhân của Ariel Sharon, kẻ sau cùng bị buộc phải từ chức.

Ban lãnh đạo Tổ chức giải phóng Palestine chuyển đến Tunisia, nơi Arafat và đoàn tùy tùng sống trong cảnh lưu vong xa hoa cho đến khi họ chuyển đến Gaza vào năm 1994. Họ dồn hết tâm sức vào việc vạch ra các chiến lược đàm phán và cân bằng sự đối địch giữa các chế độ Ả Rập, cũng như bình thường hóa quan hệ với các chế độ quân chủ vùng Vịnh.

Chính sách của Tổ chức giải phóng Palestine ngày càng dựa dẫm vào việc đánh đổi sự ổn định ở Trung Đông để đạt được những nhượng bộ. Nhằm muốn giành được đòn bẩy tại bàn đàm phán trong mắt chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ và châu Âu, Arafat sẽ dựa vào phong trào Kháng chiến và thậm chí ngày càng phụ thuộc vào các chiến thuật khủng bố cá nhân (bị Tổ chức giải phóng Palestine chính thức lên án), vì sức mạnh của phong trào kháng chiến quần chúng đã suy yếu sau những thất bại.

Các Vùng lãnh thổ bị chiếm đóng vào đêm trước của cuộc Intifada

Trong suốt hai mươi năm chiếm đóng quân sự, các Vùng lãnh thổ bị chiếm đóng đã trở thành thị trường bổ sung giúp tiêu thụ các sản phẩm của Israel và là nguồn cung cấp lao động không có tay nghề. Một yếu tố quan trọng trong quyết định chiếm đóng Bờ Tây và Cao nguyên Golan là chiếm đoạt các nguồn tài nguyên nước của khu vực. Việc các khu chiếm đóng có thể tự phát triển và trở nên độc lập là điều Israel không hề mong muốn. Điều cuối cùng mà Israel hướng tới là các Vùng lãnh thổ bị chiếm đóng có thể tự phát triển mà vẫn phụ thuộc vào quyền kiểm soát của mình.

Chính phủ Israel đã thiết kế một kế hoạch bóp nghẹt dần dần nền kinh tế của các Vùng lãnh thổ bị chiếm đóng, vốn chủ yếu gắn liền với nông nghiệp, với nghề thủ công quy mô nhỏ hạn chế. Điều này ngấm ngầm hủy hoại sinh kế của nông dân và công nhân nông nghiệp, buộc người Palestine phải đi làm hàng ngày ở Israel tăng thêm số lượng 120.000 người (một phần ba lực lượng lao động của Bờ Tây và 50 phần trăm lực lượng lao động của Gaza). Nhu cầu được làm việc phía bên kia 'Đường ranh giới xanh' đã được nhà nước Israel sử dụng như một công cụ trả đũa áp đặt lên người lao động Palestine, với mối đe dọa liên tục về việc đóng cửa biên giới theo ý muốn của mình.

Nền kinh tế của các Vùng lãnh thổ đã (và vẫn đang) phụ thuộc hoàn toàn vào Israel, ngay cả đối với các mặt hàng tiêu dùng cơ bản. Chính sách của Israel đã làm trầm trọng thêm sự phụ thuộc kinh tế tự nhiên và lịch sử của các Vùng lãnh thổ với phần còn lại của Palestine. Năm 1970, 82 phần trăm hàng nhập khẩu có nguồn gốc từ Israel, tăng lên 91 phần trăm vào năm 1987.

Hàng trăm nghìn người Palestine ở nước ngoài cũng đẩy mạnh dòng kiều hối gửi về cho gia đình họ, chiếm tới tới 37 phần trăm GDP của các Vùng lãnh thổ bị chiếm đóng vào thời điểm đó. Kiều hối vẫn tiếp tục chiếm một phần đáng kể (khoảng 20 phần trăm) GDP của Bờ Tây và Dải Gaza cho đến tận ngày nay. Nghịch lý thay, điều này đã giúp duy trì một thị trường nơi thặng dư sản xuất của Israel có thể được xuất khẩu sang.

Trong mười năm đầu tiên của cuộc chiếm đóng, tổng số người định cư không vượt quá 7.000. Tuy nhiên, sau khi đảng Likud, đảng cánh hữu theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái lên nắm quyền vào năm 1977, chính sách thực dân hóa đã nhanh chóng leo thang. Trong mười năm tiếp theo, 18.000 ngôi nhà và 139 khu định cư đã được xây dựng trên đất của người Palestine, để tiếp nhận tổng cộng 80.000 người định cư. Một mạng lưới đường xá đặc biệt đã được thiết lập để tách biệt những người định cư khỏi người Palestine với mục đích hạn chế nghiêm trọng quyền tự do di chuyển của họ. Sự hiện diện ngày càng tăng của những người định cư Do Thái đã trở thành biểu tượng trơ trẽn của sự chiếm đóng.

Cơ cấu nhân khẩu của người Palestine tại các Vùng lãnh thổ đã trải qua biến động đáng kể trong suốt hai mươi năm bị chiếm đóng. Năm 1987, 75 phần trăm dân số dưới 25 tuổi và 50 phần trăm thậm chí dưới 15 tuổi. Phần lớn những người này, vào đêm trước của cuộc Intifada, chỉ có biết đến sự nhục nhã và áp bức ngày càng trở nên không thể chịu đựng nổi được gây ra bởi chế độ chiếm đóng Israel.

Intifada (có gốc từ một thuật ngữ tiếng Ả Rập nafada có nghĩa là 'rũ bỏ', 'loại bỏ', trong bối cảnh ám chỉ nỗ lực 'rũ bỏ' sự chiếm đóng của Israel ở Bờ Tây và Dải Gaza).

Bốn thập kỷ sau Nakba và hai mươi năm sau Chiến tranh Sáu ngày, triển vọng cho cuộc đấu tranh dân tộc của người Palestine rất ảm đạm. Các phong trào cách mạng ở Jordan và Lebanon đã bị đàn áp đẫm máu, và cuộc kháng chiến của người Palestine đã tiêu tan. Sự hy sinh to lớn của quần chúng Palestine trong các trại tị nạn đã không mang lại kết quả cụ thể nào. Israel đã củng cố quyền kiểm soát toàn bộ Palestine.

Sự xa cách giữa giới lãnh đạo Tổ chức giải phóng Palestine ở Tunis và thực tế những gì diễn ra ở các Vùng lãnh thổ bị chiếm đóng đã trở nên quá lớn đến nỗi nhiều dấu hiệu cho thấy sự thay đổi tâm thế đấu tranh trên thực địa đã không được nắm bắt. Thậm chí ngay cả Arafat, người thường nhạy bén với những vẫn đề này, cũng không phát hiện ra.

Một vài tháng trước Intifada, một báo cáo của Viện Cơ sở dữ liệu Bờ Tây của nhà xã hội học người Israel Meron Benvenisti đã chỉ ra:

“Bạo lực ngày càng trở thành hoạt động chính của các nhóm tự phát, vô tổ chức… Từ tháng 4 năm 1986 đến tháng 5 năm 1987, đã ghi nhận 3.150 vụ bạo lực, từ việc ném đá đơn giản đến chặn đường, và khoảng một trăm vụ tấn công bằng thuốc nổ hoặc súng.”

Dưới ách chiếm đóng của Israel, tính hiếu chiến của người dân Palestine ngày càng lên cao, thể hiện vào ngày 5-6 tháng 6, khi một cuộc tổng đình công đánh dấu 20 năm Israel chiếm đóng nổ ra.

Vào ngày 7 tháng 12 năm 1987, một sự kiện đã xảy ra, hoàn toàn bất ngờ đối với cả tình báo Israel và các nhà lãnh đạo Tổ chức giải phóng Palestine: một sự cố, tương tự như nhiều sự cố khác, đã gây ra cuộc nổi dậy tự phát của hàng chục nghìn thanh niên và công nhân chống lại sự chiếm đóng của Israel tại trung tâm của các Vùng lãnh thổ bị chiếm đóng, nơi các nhà lãnh đạo Tổ chức giải phóng Palestine coi là cái nôi cho đấu tranh quần chúng.

Một xe tải của Lực lượng phòng về Israel đã đâm vào một ô tô dân sự, khiến bốn công nhân Palestine thiệt mạng. Cho dù đó là hành động trả thù có chủ đích của quân đội vì một người Israel đã chết ở Gaza vào ngày hôm trước, hay chỉ là một tai nạn, thì cũng không có gì khác biệt. Đây chính là giọt nước tràn ly. Tia lửa đã châm ngòi đốt cháy thuốc súng của sự căm thù mà tình trạng chiếm đóng của Israel đã tích lũy trong hai mươi năm.

Từ Intifada (một khái niệm có thể được dịch là 'rũ bỏ') mô tả rất rõ phản ứng của quần chúng Palestine. Một khi bắt đầu, cuộc nổi dậy đã làm đảo lộn thế cân bằng lực lượng đã được thiết lập từ lâu chỉ trong vài giờ, và trong nhiều tháng đã phát triển mạnh mẽ hơn, thách thức nghiêm trọng lực lượng chiếm đóng. Intifada cũng có tác động quốc tế to lớn và khơi dậy sự ủng hộ trong số những người Ả Rập tại Israel, và ngày càng làm thay đổi góc nhìn trong một bộ phận thanh niên Do Thái đối với các phương pháp tàn bạo được sử dụng để đàn áp cuộc nổi dậy.

Ngay cả sự đàn áp tàn bạo nhất cũng tỏ ra không hiệu quả. Israel đã thực hiện một cách có hệ thống việc giam giữ hành chính lên đến một năm mà không cần buộc tội hoặc xét xử. Chín nghìn vụ bắt giữ đã được thực hiện trong vài tháng; hàng trăm người thiệt mạng và hàng nghìn người bị thương; phá hủy nhà cửa và trả thù gia đình của những người bị giết hoặc bị bắt; trả thù tập thể vào các ngôi làng hoặc khu phố - đỉnh điểm là lệnh của Bộ trưởng Quốc phòng Israel Rabin là 'bẻ gãy tay chân' những người bị bắt quả tang có hành vi ném đá (hầu hết là trẻ em) - mức độ đàn áp tàn nhẫn như vậy không có mục đích gì, ngoại trừ đổ thêm dầu cuộc nổi dậy.

Cuộc đấu tranh diễn ra dưới hình thức tổng đình công, chặn đường, phục kích các cuộc tuần tra của Israel do những người nổi loạn ném đá nhắm tới. Đấu tranh cũng diễn ra bằng các hình thức bất tuân dân sự như đình thuế và từ chối tôn trọng giờ mở cửa của các cửa hàng do chính quyền Israel quyết định. Ở Đông Jerusalem, quân đội Israel đã cố gắng vô ích để buộc các cửa hàng mở cửa trong thời gian đóng cửa. Những người bán hàng bị đe dọa buộc phải mở cửa, và đóng cửa hàng ngay khi quân lính rời

Ngay từ những ngày đầu của Intifada, các Ủy ban Quần chúng đã tự phát xuất hiện ở khắp mọi nơi. Ban đầu, họ phối hợp các nhóm thanh niên chiến đấu với lực lượng chiếm đóng, Lực lượng phòng vệ Israel và cảnh sát tuần tra bằng ná cao su và lốp xe đang cháy. Khi cuộc đấu tranh tiếp tục, các Ủy ban Quần chúng cũng phân phát nhu yếu phẩm trong thời gian đình công và đóng cửa, đồng thời thành lập các nhóm có nhiệm vụ bảo vệ cộng đồng.

Các ủy ban này đã tập hợp và tổ chức các nhà hoạt động thanh niên và công nhân (phần lớn trong số họ không phải là thành viên của các tổ chức đã tồn tại từ trước), và tiếp quản quyền lãnh đạo cuộc đấu tranh, chăm lo mọi khía cạnh nhu cầu cấp thiết của người dân và đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ phát sinh từ cuộc đấu tranh.

Các ủy ban cụ thể sẽ đảm nhiệm các khía cạnh khác nhau của cuộc đấu tranh. Trạm y tế được thành lập tại các khu phố và làng mạc, giáo dục được tái tổ chức sau khi các trường học ở mọi cấp độ bị chính quyền chiếm đóng đóng cửa vào tháng 2 năm 1988. Mức giá, tiền thuê và tỷ lệ tính phí được giới hạn. Họ tổ chức chiến dịch chống lại nạn đầu cơ; tẩy chay các sản phẩm của Israel; phân phối các nguồn cung khan hiếm; họ thậm chí còn cố gắng ứng phó với cuộc khủng hoảng lương thực bằng cách phát triển nông nghiệp tự cung và chăn nuôi gia súc. Các nhân dân pháp đình [20] được thành lập. Phụ nữ đóng vai trò chính trong hoạt động của nhóm ủy ban này.

Do sức ép của tình trạng bị chiếm đóng quân sự, các ủy ban không thể triển khai đầy đủ tiềm năng của mình như một quyền lực thay thế cho chính quyền thực dân ở cấp độ tổng hợp. Tuy nhiên, trong suốt giai đoạn đầu của Intifada, đó là những cấu trúc mà thông qua đó, quần chúng thể hiện quyền lực và tinh thần đấu tranh của mình.

Vào tháng 5 năm 1988, sáu tháng sau cuộc nổi dậy, các nguồn tin của Israel ước tính rằng có 45.000 ủy ban đang hoạt động. Các ủy ban này bắt đầu được phối hợp ở cấp thành phố, khi Bộ Tư lệnh Intifada Thống nhất đã ngay lập tức được thành lập theo sáng kiến ​​của các đảng phái chính của cánh tả Palestine (Mặt trận Nhân dân Giải phóng Palestine, Mặt trận Dân chủ Giải phóng Palestine-DFLP và Đảng Cộng sản Palestine).

Trái ngược với những gì sau này được tuyên bố, vai trò của ban lãnh đạo Tổ chức giải phóng Palestine ở Tunis đã hoàn toàn bị thay thế bởi sự bùng nổ của phong trào huy động cách mạng ở các Vùng lãnh thổ bị chiếm đóng. Các chỉ thị của Arafat phần lớn bị Bộ Tư lệnh Thống nhất bỏ qua cho đến một năm sau, sau khi sự đàn áp của Israel đã loại bỏ các tầng lớp lãnh đạo ban đầu của phong trào vào tháng 9 năm 1988.

Sự chia rẽ bên trong Israel

Quân đội hùng mạnh nhất trong khu vực được triển khai để chống lại những đứa trẻ chỉ được trang bị gạch đá và lòng dũng cảm. Điều này như là âm vang của huyền thoại trong Kinh thánh về cuộc chiến của David chống lại Goliath, chỉ có điều David là người Palestine.

Lực lượng chiếm đóng thường xuyên tiến hành lùng sục để trưng dụng và thiêu hủy các 'vũ khí' như sách giáo khoa, thuốc men và vật tư y tế, đồng thời phá hủy các vườn tược đã mọc lên khắp nơi để nuôi sống người dân trong điều kiện thiếu thốn cùng cực. Điều này làm lung lay lòng tin của những người lính trẻ của Lực lượng phòng về Israel và khơi dậy sự ghê tởm ngày càng tăng đối với sự chiếm đóng trong nhiều tầng lớp thanh niên Israel.

Sự chia rẽ sâu sắc đạt đến đỉnh điểm nhất vào tháng 3 năm 1988, với việc thành lập 'Hội đồng Hòa bình và An ninh' do một nhóm tướng lĩnh Israel đã nghỉ hưu đứng đầu, lập trường của họ được Tướng Orr, cựu chỉ huy tối cao của Lực lượng phòng về Israel ở khu vực phía bắc (Liban) tóm tắt như sau: "Tất cả chúng ta đều đồng ý rằng sự chiếm đóng phải chấm dứt, bởi vì duy trì nó gây ra mối nguy hiểm lớn hơn nhiều đối với an ninh của chúng ta so với việc chấm dứt nó." (Le Monde, ngày 2 tháng 6 năm 1988).

Bản kiến ​​nghị của họ được ký bởi cựu giám đốc Mossad (Yariv) và cựu quản trị viên Bờ Tây (Sneh), cũng như 30 tướng lĩnh sư đoàn và 100 tướng lĩnh lữ đoàn - chiếm một nửa số tướng lĩnh dự bị.

Phía ngược lại, Shamir quyết tâm thoát khỏi cuộc khủng hoảng bằng cách tăng cường đàn áp ở các Vùng lãnh thổ bị chiếm đóng. Vào tháng 8 năm 1988, các Ủy ban Nhân dân đã bị cấm và những người tham gia bị kết án tù lên tới 10 năm. Intifada, một năm sau khi bắt đầu, bắt đầu phải chịu những đòn giáng của sự đàn áp và điều kiện kinh tế ngày càng tồi tệ.

Bộ Tư lệnh Thống nhất đã công nhận thẩm quyền của Tổ chức giải phóng Palestine là "đại diện duy nhất của người dân Palestine" vào cuối năm 1988. Vào ngày 15 tháng 11, Arafat tuyên bố sự độc lập của một nhà nước Palestine tại các Vùng lãnh thổ do Israel chiếm đóng, ngay sau đó Tổ chức giải phóng Palestine bắt đầu giành lại quyền kiểm soát việc huy động lực lượng ở các Vùng lãnh thổ. Các Ủy ban đã được đồng hóa vào các cấu trúc phúc lợi của Tổ chức giải phóng Palestine nhưng bị tước bỏ vai trò là chính quyền phôi thai đại diện cho quyền lực của quần chúng người Palestine.

Điều này giáng một đòn quyết định vào bản chất quần chúng của Intifada và mở ra một giai đoạn thứ hai, khắc nghiệt hơn của cuộc nổi dậy, giai đoạn này đã có bước ngoặt tuyệt vọng trong một bộ phận thanh niên. Không phải ngẫu nhiên, khi bản chất quần chúng của cuộc nổi loạn suy yếu, vai trò của các tổ chức Hồi giáo như Hamas và Jihad Hồi giáo lại tăng lên.

Hamas

Hội Anh em Hồi giáo (The Muslim Brotherhood) không đóng bất kỳ vai trò nào trong giai đoạn đầu của Intifada. Hamas được thành lập như một tổ chức riêng biệt sau khi Intifada đã bắt đầu, nhằm bảo vệ lợi ích của Mujama Al-Islamiya, tổ chức do thủ lĩnh của Hội Anh em Gaza (The Gaza Brotherhood) là Sheikh Ahmed Yassin thành lập.

Một bài báo tiết lộ năm 2009 của Andrew Higgins trên tờ Wall Street Journal đã làm sáng tỏ vai trò của Israel trong việc nuôi dưỡng những gì sẽ trở thành Hamas.

Sau hai thập kỷ bị chính quyền Ai Cập đàn áp, Hội Anh em Hồi giáo đã tìm thấy những điều kiện thuận lợi để phát triển hưng thịnh tại Gaza do Israel chiếm đóng. Israel đã cho phép Mujama Al-Islamiya được đăng ký là một tổ chức từ thiện và hoạt động hợp pháp trong suốt những năm 1970 và 1980, tích lũy tiền bạc và bất động sản.

Xung quanh tổ chức này, một mạng lưới trường học, câu lạc bộ, nhà thờ Hồi giáo và Đại học Hồi giáo Gaza đã tạo cho Hội Anh em Hồi giáo môi trường hoàn hảo để phát triển các hoạt động của mình. Mục đích của Israel là sử dụng những người theo chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan để phá hoại phong trào cánh tả cách mạng của lực lượng kháng chiến Palestine.

Mujama đã xung đột bạo lực với phe cánh tả Palestine để giành quyền kiểm soát các tổ chức như Hội Trăng lưỡi liềm đỏ Palestine (phiên bản Hồi giáo của Hội Chữ thập đỏ), bằng cách đột kích vào văn phòng của họ. Cuộc đấu tranh diễn ra ở mọi cấp độ. Những người theo chủ nghĩa Hồi giáo đã tấn công các cửa hàng bán rượu và rạp chiếu phim. Quân đội Israel chủ yếu đứng ngoài cuộc theo dõi.

Mối quan hệ giữa Mujama và các cơ quan mật vụ của Israel vẫn được duy trì ngay cả sau khi Sheik Yassin bị bắt vào năm 1984 và liên quan đến các cuộc tham vấn ở cấp cao nhất. Sau khi Intifada bùng nổ, Hacham, một chuyên gia về các vấn đề Ả Rập của quân đội Israel, đã kể lại việc đưa một trong những người sáng lập Hamas, Mahmoud Zahar, đến gặp Bộ trưởng Quốc phòng Israel Yitzhak Rabin, như một phần của các cuộc tham vấn thường kỳ.

Vụ thảm sát tại nhà thờ Hồi giáo al-Aqsa ở Jerusalem vào tháng 10 năm 1990, kết hợp với sự tuyệt vọng nảy sinh sau một cuộc đấu tranh kéo dài mà không có triển vọng đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của Hamas.

Hiệp định Oslo năm 1993

Arafat và Tổ chức giải phóng Palestine đã ủng hộ Iraq trong Chiến tranh vùng Vịnh năm 1990. Saddam Hussein đã sử dụng vấn đề Palestine để chống lại chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ, bằng cách lên án các tiêu chuẩn kép áp dụng cho Iraq và Israel, và đề nghị rút quân khỏi Kuwait, nếu Israel cũng làm như vậy với các Vùng lãnh thổ bị chiếm đóng. Điều này đã gây ra sự rạn nứt giữa Tổ chức giải phóng Palestine và Hoa Kỳ, và cả với Liên đoàn Ả Rập, vốn đã xếp hàng sau Bush.

Bây giờ, chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ nghĩ rằng họ có thể biến điểm yếu của Arafat thành lợi thế của họ. Một hội nghị để 'giải quyết vấn đề Palestine' tại Madrid đã được triệu tập vào mùa hè năm 1991 với sự tham gia của Tổ chức giải phóng Palestine, và Hamas gọi đây là 'sự bán rẻ Palestine'. Các cuộc đàm phán song phương giữa Israel và Palestine cuối cùng đã dẫn đến việc ký kết Hiệp định Oslo, được chính thức phê chuẩn công khai tại Nhà Trắng vào ngày 13 tháng 9 năm 1993, với cái bắt tay nổi tiếng giữa Yasser Arafat và thủ tướng Israel Yitzhak Rabin.

Về phía Israel, Hiệp định là sự thừa nhận về việc không thể tiếp tục thực thi việc chiếm đóng trực tiếp các Vùng lãnh thổ, cuộc Intifada đã vén màn sự thật này.

Rabin đã dành phần lớn cuộc đời mình để chiến đấu với người Palestine. Năm 1948, ông ta đã tham gia vào các cuộc tấn công vào Lydda và Ramle, giữa Tel Aviv và Jerusalem. Hàng trăm người đã bị bắn trong chiến dịch đó. Năm 1967, Rabin là Tổng tham mưu trưởng Lực lượng phòng về Israel trong Chiến tranh Sáu ngày, sau đó ông ta được phong cho danh hiệu anh hùng của Israel. Vào cuối những năm 1980, với tư cách là bộ trưởng quốc phòng dưới thời Shamir, Rabin đã chỉ đạo các động thái phản ứng của Israel đối với Intifada, bao gồm cả việc ra lệnh cho binh lính Israel bẻ gãy cánh tay của những thanh niên Palestine bị bắt quả tang ném đá, điều mà sau đó ông ta phủ nhận.

Chính sự kiện Intifada đã thuyết phục ông ta rằng tình thế hiện tại đã không còn có thể được duy trì. Một bài báo trên tờ New Yorker (ngày 19 tháng 10 năm 2015) trích lời Rabin nói với một nhóm đồng nghiệp của Đảng Lao động vào năm 1988, "Tôi đã học được một điều trong hai tháng rưỡi qua. Một trong số đó là bạn không thể cai trị bằng vũ lực đối với một triệu rưỡi người Palestine".

Những lời của Rabin cho thấy cuộc nổi dậy cách mạng của Intifada đã làm rung chuyển sâu sắc nền tảng chiếm đóng của Israel như thế nào. Điều này buộc giới lãnh đạo của chủ nghĩa phục quốc Do Thái phải thay đổi chiến thuật. Sự thay đổi này là khả thi thông qua quyền hạn có được của Rabin, mặc dù phải trả giá bằng sự phẫn nộ ngày càng tăng của phe cực hữu theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái, thứ đã khiến Rabin mất mạng vào năm 1995.

'Kẻ thù không đội trời chung', giới lãnh đạo Tổ chức giải phóng Palestine, đã bị giai cấp thống trị Israel mua chuộc trong một thỏa hiệp khó khăn, về cơ bản là một cái bẫy. Tổ chức giải phóng Palestine đồng ý công nhận sự tồn tại của Israel và từ bỏ yêu cầu về Quyền hồi hương của những người tị nạn Palestine năm 1948. Israel đã đồng ý thành lập Chính quyền Palestine tại một phần Lãnh thổ bị chiếm đóng của Gaza và Bờ Tây, chính quyền này sẽ phải chịu trách nhiệm về an ninh của Israel.

Nói cách khác, Tổ chức giải phóng Palestine đã đảm nhận nhiệm vụ giám sát người dân của chính họ để đổi lấy hình ảnh một “bán nhà nước” Palestine (Semi-state Palestine), lệ thuộc hoàn toàn vào Israel ở mọi cấp độ. Thỏa thuận đã đạt được dưới sự bảo trợ của các chế độ Ả Rập, 'những người bạn' của Palestine và chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ.

Thỏa thuận Oslo đại diện cho một bước ngoặt trong tình thế, chấp thuận sự sụp đổ của Phong trào kháng chiến Palestine. Hamas là lực lượng Palestine duy nhất phản đối các hiệp định.

Như vậy, Hoa Kỳ đã đạt được mục đích của mình thông qua thúc đẩy cái gọi là là tiến trình hòa bình, điều này sẽ định hình khuôn khổ của cuộc xung đột Israel-Palestine cho đến ngày nay. Sau toàn bộ quá trình này, với những cuộc đấu tranh anh hùng của quần chúng, và sự phản bội, bán đứng của giới lãnh đạo, đã chẳng có vấn đề nào được giải quyết. Trên thực tế, đối với nhiều người, Nakba chưa bao giờ kết thúc.

Một lịch sử áp bức ngót nghét 80 năm.


[1] Người di cư Do Thái từ Châu Âu ban đầu đến Israel đã dùng tiền có được để mua lại đất đai từ tay các chủ đất Palestine

[2] Young Turk - phong trào cải cách chính trị ủng hộ việc thay thế chế độ quân chủ chuyên chế của Đế quốc Ottoman bằng một chính phủ lập hiến

[3] Tiếng Ả Rập nghĩa là cao quý, cao thượng, dùng để chỉ dòng dõi quý tộc, hoặc hậu duệ của Tiên tri Hồi giáo Muhammad

[4] cần lưu ý rằng không phải người Do Thái nào cũng ủng hộ chủ nghĩa Phục quốc Do thái

[5] 1 bảng Palestine tương đương 1 bảng Anh, được quy đổi ra 123.27447 grain vàng tiêu chuẩn

[6] đơn vị tính diện tích đất ở Ottoman-Palestine, 1 dunam tương đương hơn 900 mét vuông

[7] do đa phần người Palestine trước đó là dân du mục

[8] semi-state - các thể chế này thực hiện một số chức năng nhà nước nhưng không phải một nhà nước hoàn chỉnh

[9] tiếng Do Thái có nghĩa là Lực lượng phòng vệ, chỉ lực lượng bán vũ trang của người Do Thái

[10] người Do Thái gốc Châu Âu, sinh sống từ thời Đế chế La Mã Thần Thánh

[11] hậu duệ của người Do Thái Tây Ban Nha di cư đến định cư tại đế chế Ottoman

[12] Histadrut: tên đầy đủ là Tổng Liên đoàn Công nhân mới, đến năm 1994 đổi tên thành Tổng Liên đoàn Lao động tại Đất nước Israel, là trung tâm công đoàn quốc gia của Israel và đại diện cho phần lớn các công đoàn viên của Israel

[13] Holocaust: cuộc tàn sát người Do Thái vào thời Hitler

[14] aggressive defence: chiến thuật phòng thủ trong đó chủ động quấy rối hàng ngũ của đối phương để ngăn chặn quân địch có thể tổ chức tấn công

[15] nghĩa đen là Đạo binh Kiên nghị

[16] do không chạy ra nước ngoài nên những người này không được coi là người tị nạn, nhưng vẫn bị mất chỗ ở, và nguồn sống

[17] tên gọi khác của sự kiện diệt chủng Do Thái Holocaust tiến hành bởi phát xít Đức, tiếng Do Thái có nghĩa là thảm họa, cùng nghĩa với từ Nakba trong tiếng Ả Rập

[18] được lãnh đạo bởi đảng Kataeb, một đảng cực hữu dân chủ xã hội Lebanon thành lập năm 1936

[19] Một nơi nghỉ dưỡng ở vùng nông thôn dành cho tổng thống Hoa Kỳ

[20] chức năng hoạt động giống tòa án do nhân dân tiến hành

Join us

If you want more information about joining the RCI, fill in this form. We will get back to you as soon as possible.